Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Trịnh Đình Khôi

NHÀ VĂN TRỊNH ĐÌNH KHÔI

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trịnh Đình Khôi

Sinh năm: 1946

Nơi sinh: Tiên Sơn - Bắc Ninh

Bút danh: Anh Thư, Quang Tuấn

Thể loại: truyện ngắn, ký

Các tác phẩm:

  •     Sắc nắng quê hương (1982)

  •     Chân dung chiến sĩ (1984)

  •     Hoa thơm trái đắng (1988)

  •     Phong lan đỏ   >> Chi tiết

  •     Chàng trai ở bến đợi xe (1987)

  •     Người đẹp ở một mình (1993)

  •     Tiếng đỗ quyên (1995)

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Mưa tháng Chạp

Đêm tháng Chạp, trời lạnh tái tê, mưa giăng màn, tôi ngồi bên Yến, lo lắng nhìn vào đôi mắt nhắm nghiền, toàn thân ru rẩy. Yến bị sốt cao, đầu nóng hầm hập. Manh chiếu và những tờ báo cũ rải trên nền xi măng chưa đủ ấm, tôi trải thêm tấm chăn nửa nằm nửa đắp cho Yến. Nó vẫn mê sảng, miệng nói lảm nhảm. Mỗi lần tỉnh dậy không thấy tôi, Yến lại vừa gọi vưa khóc. Khi tôi đến bên, Yến với bàn tay gầy khô bíu chặt lấy tôi giọng nói như người đứt hơi: "Cậu đừng bỏ mình đi nhé! … Mình sợ lắm…!".

Tôi ôm Yến trong tay mắt rưng rưng nước. Phải đi mua thuốc thôi, tôi nhẩm tính trong đầu những đồng tiền hai đứa tích cóp được xem còn bao nhiêu. Đợi cho Yến ngủ thiếp đi, tôi phủ thêm cho nó chiếc áo ấm ra ngoài chăn rồi chạy vụt đi. Trời lạnh, các cửa hiệu thuốc đã đóng cửa hết, may quá đến cửa hàng của một ông già mới mua được vỉ thuốc. Tôi ôm chặt vào ngực, cúi xuống trong mưa. Trời đêm lạnh lẽo, heo hắt như chỉ có hai đứa trên cõi đời này. Tôi thảng thốt, sợ hãi nhìn vỉa hè vắng hoe, vội vàng lao đến bới tìm trong đống chăn chiếu cứ  như Yến chỉ bé nhỏ như con mèo con. Lạ chưa? Yến đi đâu chỉ còn sót lại ít hơi ấm, thoáng mùi mồ hôi toả ra từ mái tóc con gái trên chiếc gối cũ. Ốm như thế làm sao đi được. Kẻ nào bắt cóc Yến rồi. Tội nghiệp cô bé. Tôi chạy tới chạy lui, nhớn nhác gọi. Tiếng tôi vẳng vào đêm rồi trả lại cho tôi. Vò tai bứt tóc tôi trách mình sao lại ngu dại đến thế. Sau một hồi tìm không thấy, tôi ngồi thu lu gục xuống đầu gối khóc một mình. Vắng Yến tôi như đứa trẻ mồ côi lần thứ hai. Hôm sau tôi lang thang cả một ngày, đôi mắt lơ láo như kẻ mất hồn. Mấy lần suýt đụng vào xe, bị quát mắng om sòm. Nỗi đau đớn buồn tủi khiến tôi nhũn ra như mớ giẻ rách. Người qua đường rảo bước đi qua, thằng bé ăn mày hôi hám. Tôi nằm bất động chịu đói khát. Lại một đêm mất ngủ trên vỉa hè. Tôi khoác tấm chăn chiên cũ dựa lưng vào tường, mắt nhìn chong chong ra đường phố, thỉnh thoảng lại bừng lên hút theo những cái bóng bé nhỏ. May ra, may ra thôi, từ đâu Yến hiện về. Chuyện đó đối với tôi lúc này vui sướng hơn cả được gặp tiên hay gặp cô Tấm trong truyện cổ tích.

Những cơn gió bấc lùa vào mái hiên khiến tôi nghĩ đến cánh bãi đầy rau muống và những  bông hoa cúc dại nhỏ như cái khuy áo nở trắng. Hai đứa trẻ chụm đầu bên đám khói nghi ngút, chúng bẻ đôi bắp ngô nếp nướng chia nhau. Đứa con gái lộ hàm răng trắng muốt, nhỏ xíu như những hạt bắp non mỗi khi nó cười. Thằng con trai có vẻ đầu bò đầu bướu, bộ mặt nhọ nhem than đất nhưng thông minh, gan góc. Ăn xong nó ào xuống sông bơi lội như con rái cá. Dưới gốc gạo bên bờ sông, cô bé vừa hát nghêu ngao, vừa kết những cánh hoa đỏ thành vòng đeo cổ. Còn đâu nữa niềm vui ngắn ngủi ấy. Hai đứa trẻ mồ côi đã bỏ cánh bãi, dòng sông dắt nhau ra thành phố kiếm ăn. Ngày ấy, Yến sợ hãi vì lạ nước, lạ cái, còn tôi đã nhiều lần theo chị gái gánh rau vào thành phố bán. Đêm tháng Chạp rét mướt, hai chị em co ro bên bếp than của bà bán nước sôi đầu chợ Bắc Qua, nghe gà gáy suốt đêm vì chợ lúc nào cũng sáng đèn. Tôi nhớ mãi, một cô bé thành phố, đôi mắt như hai hạt sao víu vào váy bà tò mò nhìn tôi. Cô bé xinh như một búp bê, tôi ngắm không biết chán, chỉ có điều con búp bê ấy biết nói và biết khóc. Ai là chủ của con búp bê ấy chắc người ấy sẽ hạnh phúc lắm. Sau này có đôi lần tôi còn lảng vảng trước cửa nhà cô bé búp bê. Không biết cô có đọc truyện anh chàng bán hành "Dọc bằng đòn gánh, củ bằng bình vôi, ai mua hành tôi, thì thương tôi với" không. Những buổi chiều mưa, sau khi bán hết rau, tôi ngồi kẹp giữa hai chiếc sọt gặm mẩu bánh mì rắn như cục gạch vì trời lạnh. Ấm bụng rồi lại chống đòn gánh ngắm nhìn những cành đào, chậu quất nhuộm màu thành phố trong những ngày giáp Tết. Cuốn hút tôi nhất vẫn là ông già đóng khăn xếp áo the ngồi xếp bằng tròn trước ngang giấy hồng điều, viết câu đối cho người hàng xứ. Bất chợt, tôi nhớ đến cha tôi. Lòng nao nao thương ông. Ngày xưa, khi gia đình còn khá giả, vào dịp Tết, cha tôi cũng nằm bò trên chiếc chiếu cạp điều viết câu đối cho cả làng. Từ ngày mẹ tôi đột ngột qua đời bỏ lại một lũ con thơ dại, cha tôi gác bút ngồi giữa nhà, nhìn hàng xóm đón xuân.

Tôi sinh ra trong một làng quê ngoại thành. Làng tôi không nghèo cũng chẳng giàu. Gia đình tôi thuộc loại khá giả, đến đời cha tôi gia sản thất tán vì chiến tranh. Tôi lớn lên nhận đủ sự nghèo khổ của mẹ cha. Làng tôi có ngôi đền lớn, có cây đa to. Ngày ngày tôi quanh quẩn cùng lũ bạn chăn trâu bên gốc đa, hết phá tổ chim lại kéo xuống sông bơi lội ngụp lặn…

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2001     

 

 

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn