Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Trang Thế Hy

NHÀ VĂN TRANG THẾ HY

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Võ Trọng Cảnh.

Sinh năm: 1926

Nơi sinh: Châu Thành - Bến Tre, (nay là thị xã Bến Tre)

Bút danh: Trang Thế Hy, Phạm Võ, Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Vũ Ái, Văn Minh Phẩm.

Thể loại: truyện ngắn, ký.

Các tác phẩm:

  •     Nắng đẹp miền quê ngoại (1964)

  •     Mưa ấm (1981)

  •     Người yêu và mùa thu (1981)

  •     Vết thương thứ mười ba (1989)

  •     Tiếng khóc và tiếng hát (1993)

  •     Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác (2001)

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Anh Thơm râu rồng

Mọi người nhìn ra hành lang. Qua những chấn song sắt của mặt tiền phòng giam, chúng tôi thấy tên công an quen mặt của Trung tâm thẩm vấn đang mở còng cho một anh tù nhân khoảng ngoài ba mươi tuổi, dáng người cao lớn có bề ngang nhưng tiều tuỵ gầy yếu, da đen sạm, tóc dài chỏi vành tai, râu mép và râu cằm tua tủa như rễ tre. Anh mặc một cái quần đùi bằng vải xanh còn mới và một chiếc áo bà ba đã cũ, tay áo cắt ngắn đến khỏi cùi chỏ để lấy vải vá nhiều miếng ở vai và ở lưng. Anh kẹp ở nách bên phải một gói đồ lép xẹp bọc trong chiếc khăn choàng tắm rằn ri chầm khiếu tứ tung. Trong lúc chờ mở còng anh nhìn vào trong phòng giam nheo mắt hay nhoẻn miệng cười với những gương mặt quen biết từng gặp nhau ở những nơi giam giữ khác. Tiếng xì xào cứ tiếp tục:

-          Trời! Anh Thơm mà tự hồì giờ nhìn không ra chớ! Tội nghiệp, mới có mấy tháng mà ảnh ốm thấy ớn chưa?

-          Thơm nào? Thơm râu rồng hả? Uống cạn hết mấy cái hồ nước bót Hoà Hoà rồi mới chịu ra đây đó hả cha nội? Vô đây. Ngày mai có giỏ nuôi rồi. Tụi nầy sẽ bồi dưỡng cho anh mau lợi nghỉnh để anh phun nước cho anh em tắm với. Nước ở đây hẻo lắm!

Nhiều người đang ngồi vụt đứng phắt dậy đi về  phía cửa mặc kệ cái cau mày vẻ phật ý của tên công an gác khám đứng lên bên cạnh tên công an áp giải. Hắn chắp tay sau đít khua xâu chìa khoá leng keng, mặt lầm lì nhìn châm bẩm vào trong theo dõi từng cử chỉ lắng nghe từng câu nói của anh em. Đợi cho tên công an áp giải mở còng xong,

 hắn mới mở cánh cửa sắt, hé ra vừa đủ cho anh Thơm lách mình bước vô rồi đóng sầm lại, khoá ngay lập tức. Những người quen trước với anh Thơm vây bọc lấy anh, hỏi thăm rối rít, kẻ nắm tay người sờ xương vai coi anh ốm tới cỡ nào. Một anh vén áo anh lên nhìn ngực nhìn lưng coi có thương tích gì hay không. Ông già “Bảy tiếu lâm” vuốt nhẹ bộ râu cằm của anh pha lửng:

-          Đúng là râu rồng! Tao từ khi ra đây bị xa mầy mà mất cái bổn mạng “chánh vì vương” có rồng phụ thể thành thử bị hai mách “cắt sô” và một trận đi máy bay quá cỡ tưởng đâu “xí lắc léo” rồi!

Trước thái độ ân cần nồng hậu của anh em, anh Thơm chỉ mỉm cười điềm đạm, chưa  kịp trả lời câu hỏi nào cho đến nơi đến chốn. Câu trả lời nào của anh cũng bị cắt đứt nửa chừng bằng những câu hỏi khác.

Nơi xuất bản: NXB Văn học, 2003