Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Trần Văn Thước

NHÀ VĂN TRẦN VĂN THƯỚC

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Văn Thước

Sinh năm: 1954

Nơi sinh: Tiền Hải -Thái Bình

Bút danh: Trần Văn Thước

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

  •     Tháng ba thương mến (1997)

  •     Truỵên ngắn Trần Văn Thước (1989)

  •     Ông già và đấu sỹ (1999)

  •     Miền ký ức (1999)

  •     Mùa yêu (2001)

  •     Nùa hoa rau muống

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Đêm trăng muộn

Đêm thứ tư sau phiên chợ huyện, anh phó Cáp bê cái điếu, phích nước ta ngồi ngoài hiên. Mặc cho trời đầy sương sa, gió lộng anh mặc độc một chiếc may ô. Anh pha ấm trà thật đặc, vê mồi thuốc lào rõ to. Anh uống, anh hút thật đã để bù lại mấy hôm xa nước, xa thuốc, để bay biến đi cái bơ phờ, rời rã vì mấy đêm mất ngủ. Hương trà khói thuốc làm anh tỉnh táo lạ. Anh nghe thật thấu tiếng ngáy ngủ của mẹ. Tiếng ngáy nặng và không đều; như thế là mẹ mệt lắm đấy. Gần bảy mươi tuổi rồ mà còn phải gánh vác bao công việc, phải lo nghĩ bao điều. Công việc thì anh có đỡ đần được mẹ. Còn nỗi buồn lo thì không những không đỡ nổi mà có bề dày nặng hơn ! Ngay như cái bệnh mấy hôm nay chính anh đã làm mẹ gầy rộc đi trông thấy. Chao ôi ! Nếu mẹ biết nguyên nhân anh đổ bệnh hẳn còn rộc rạc bội phần. Chao ôi ! Tất cả chỉ tại lão Hiền bò. Tại lão Hiền bò !. Chính vì lão mà những đam mê đến cháy khô người đã dần tắt lịm trong anh bỗng dưng vào một đêm trăng muộn, nỗi đam mê bừng cháy, rừng rực, thôi thúc hệt như thời trai trẻ...

- Lão Hiền bò ơi ! - Anh Cáp bỗng thốt lên. Lời thốt thảng không ra giận cũng chẳng ra mếu. Sự lững lờ cảm xúc khiến anh lạnh toát người. Ngay lập tức anh nhớ đến một năm đời mình và đem trăng muộn ấy...

Năm ngoái, đóng xong cái cối đất cho lão Hiền bò - cái lão đã bị cải tạo về tội buôn bán giết lậu trâu bò- anh phó mới thấy cái cảnh nghèo túng của nhà lão, cũng như cái sự thật vô cùng vô lý:trăm sự chi tiêu nằm trong tay mấy lão địa chủ mới phất nhờ quyền chức, mánh mung và mấy mụ chuyên cho vay nặng lãi.

Trước đây, lão Hiền uốn lưỡi nói phét cũng có bạc nghìn. Nhưng làm một ăn mười lại máu mê cờ bạc nên chẳng phải tháng ba ngày tám vợ lão cũng xách rá đi khắp xóm. Nhà cửa lúc nào cũng ầm ĩ nhức tai xóm giềng cũng vì nỗi vơi lưng cơm, gù rượu. Nhờ cơm nước trại cải tạo mà lão chí thú làm ăn lại. Ròng mấy vụ, lão đốc sức vào ruộng, vườn và đàn lợn ký gửi, quyết chí vực sản nghiệp lụn bại vì một thời ngược xuôi lèo lái. Cả nhà từ vợ chồng chí con cái người nào cũng sắt lại mà sự “đi lên” xem ra ì ạch lắm. Cũng bởi lẽ mẫu ruộng, sào vườn, đàn lợn và hai vợ chồng không “thắng nổi” sức ăn rỗi của bẩy “toa nhóc”.

Ở nhà lão Hiền về, anh Cáp ướm thử ý mẹ:

- Ýlão Hiền muốn theo con đi kiém cơm thiên hạ. Con nghĩ người thiếu đã có nhời, nhà mình xem ra cũng còn khá hơn bên ấy chả nhẽ chối lời. Lão đi với con kiếm bát cơm đồng công, bát để nhà vợ con lão sẻ cho nhau....

Bà Cảu nhả vội miếng trầu, ra giọng chì:

- Trước naty con đi một mình giờ thêm người phụ sợ thiên hạ cho rằng dẫn người đi ăn ké. Con tính kỹ kẻo rồi mất khách.

Bàn cho mẹ mới phải đạo chứ anh phó đã tính kỹ rồi. Hôm sau anh gọi lão Hiền sang nhà. Mấy phên cối lâu nay dùng làm ổ ngan, ổ gà được lôi ra góc sân. Ba ngày liền anh phó cho lão Hiền bò tập nghề bằng cái đống dụng cụ trực quan “ổ ngan, ổ gà” ấy.

Vào một ngày đầu tháng nông nhàn, thầy trò anh phó toòng teng hòm đồ thợ cối đi kiếm cơm thiên hạn.

Thầy trò anh phó dốc sức làm con tính “một bát sẻ đôi” trên một loạt cối tre, cối đất ở làng Văn Lang, một làng công giáo toàn tòng và cự phách trong nghề hàng xáo, nấu rượu. Những người cần đóng cối, sửa cối cũng đã tính ra đáp số tiền công cơm thợ. Ai cũng vui vẻ khi được cái cố tốt mà tiền công chẳng tốn hơn mấy rả.

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Thanh Niên, 2004