Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Trần Thuỳ Mai

NHÀ VĂN TRẦN THUỲ MAI

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Thị Thùy Mai,

Sinh năm: 1954

Nơi sinh: Hội An, Quảng Nam.

Bút danh: Trần Thuỳ Mai

Thể loại: truyện ngắn

Các tác phẩm:

  •     Bài thơ về biển khơi (1983);

  •     Biển của đời người   >> Chi tiết  

  •     Cỏ hát (1984);

  •     Thị trấn hoa quỳ vàng (1994).   >> Chi tiết

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Lửa của khoảnh khắc

Thằng Cọt ngồi trên chiếc ghế gỗ, đôi mắt trừng trừng ngó ra ngoài vườn. Trên đầu nó, mái hiên chùa im mát rợp bóng. Không gian im vắng thoang thoảng mùi nhang trầm tinh khiết. Tất cả sạch sẽ, tinh tươm, thanh tịnh. Trên cái nền ấy, thằng Cọt nổi bật lên như một vật kỳ dị, lạc lõng.

Đã hơn mấy mươi năm, nó vẫn ngồi đó. Khuôn mặt nó già đi mỗi ngày, mái tóc rậm, đôi tai vểnh và tròn. Chỉ có cơ thể và tay chân cứ hoài quắt queo, không nhỉnh thêm một tí nào, mãi mãi vẫn là thân thể một đứa trẻ bên dưới cái đầu của một người đàn ông không có tuổi.

Thằng Cọt không có tuổi. Như là hiện thân của nỗi ám ảnh bất tận. Dưới mái chùa này, Vãi Thông sống với nó như sống với nghiệp chướng. Mỗi buổi sáng, Vãi thức dậy từ sớm. Sau giờ trì tụng công phu, Vãi lo nấu cơm, vực thằng Cọt dậy và lặng lẽ đút từng muỗng vào cái mồm xám xỉn. Cứ thế từng ngày. Vãi sống lơ lửng giữa cõi tu và cõi tục. Sau những giờ trầm lặng trong hoa hương, kinh kệ và viễn cảnh siêu thoát mà Vãi hằng khao khát, là những giờ đối diện với đứa con trì độn, với đôi mắt mở trừng trừng nhìn vào khoảng không.

Bao giờ cũng thế, đôi mắt ấy giữ trong đáy sâu của nó hình ảnh cái làng quê trên vùng bán sơn địa cằn khô. Vùng đất bốn mươi năm trước Niết đã về làm dâu. Đám cưới đi bộ qua cánh đồng cỏ úa. Đồng cỏ rộng và hoang vu như một cái truông dài. Để được an tâm, nhà chồng Niết cho Dõng, lực điền giúp việc trong nhà vác ngọn lao đi đầu phòng khi gặp mãnh thú trong cỏ lau. Ở vùng này, nước khan, người ta chỉ làm ruộng một mùa. Nghề phụ kiếm sống là săn bắn. Người ta sử dụng cung tên giáo mác và giỏi đặt bẫy hơn cả người tiền sử…

Hoài niệm về đám cưới quá xa mờ, chỉ còn hình ảnh đoàn người đi sau mũi giáo, băng qua con đường đất đỏ như màu tiết đọng, giữa hai bên lau cỏ vượt quá đầu người. Niết cúi đầu đi dưới nắng, giữa các bà già đi quanh. Thoáng nghe tiếng xì xào: "Thằng Dõng đi đầu, vác ngọn giáo mà mũi lại hướng ngay về cô dâu chú rể, thật chẳng hay tí nào". Niết nghe nói nhìn lên. Ánh mặt trời tụ lại trên mũi lao thành một chùm sáng loé. Những bắp thịt của người tráng đinh cuộn lên dưới nắng. Gío thổi qua truông ào ào, cuốn theo những tiếng lao xao của đoàn người.

Đêm cưới Niết, trong sân nhà chồng nàng tụ lại đông như ngày hội. Đống lửa hồng trên sàn. Mùi thịt nướng toả lan trong không khí. Niết nằm trong buồng nhìn qua khe cửa sổ. Tiếng ông trùm phường săn đang hát bài tế sơn quân trước xác con vật cách đấy mười tiếng đồng hồ còn thuộc về rừng núi: "Aaa..aa..Sơn quân trong rừng sâu, sơn quân trên núi cao. Thú vào bẫy, người nhỏ máu. Rừng núi rộng lòng, người ta nương náu…" Trong tiếng hát, một tráng đinh lực lưỡng đang dọc ngang trên xác con heo rừng, tay cầm con dao sáng loáng. Lúc hắn quay mặt ra ánh lửa, Niết nhận ra người đàn ông vác mũi lao đi đầu đoàn người qua truông. Thịt đã chia xong cho mỗi nhà, theo đúng tục cưới trong vùng này. Ngọn lửa dần tàn, người tản đi bớt. Đêm dần lặng yên, trong lúc Niết mệt nhoài vì chuyến đi, vì những xao xuyến của ngày đầu xa nhà. Nàng thiếp đi, trong giấc mơ ngọn lửa cứ bập bùng cho đến khi một bàn tay chạm vào cánh tay nàng. Niết giật mình, bàn tay đầy mồ hôi, nhớp nháp lạnh. Nàng mở mắt. Thầy Thông, người chồng mà giờ phút này nàng mới nhìn rõ mặt. Niết nằm im lặng, mở to mắt, chờ đợi. Trong giờ phút yên lặng ấy, nàng có cảm giác như vẫn nghe rất rõ tiếng lách tách của những mẩu than cuối cùng trên đống tro ngoài kia, và mùi lông, da thú cháy khét lẩn quẩn trong không khí.

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 2002