Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Trần Phương Trà

NHÀ VĂN TRẦN PHƯƠNG TRÀ

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Nguyên Vấn

Sinh năm: 1937

Nơi sinh: thành phố Huế

Bút danh: Trần Phương Trà

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

  •     Trở về Hà Nội (in chung - 1960)

  •     Của tin (1981)

  •     Ba người bạn Quốc học Huế (1997)

Giải thưởng văn chương:

  •     Giải thưởng của Bộ Lao động Thương binh Xã hội và Tổng cục Chính trị (bút ký "Lần theo năm tháng cũ" năm 1992)

Giới thiệu một tác phẩm:

Của tin

Nghe có tiếng đằng hắng ở ngoài ngõ, thím Chuyên ngước mắt nhìn ra. Một người đàn ông mặc bộ bà ba xanh nhạt, đội mũ xáng bằng ni lông trắng đã ngả vàng, bước vào trong sân. Thím vội trải chiếu rồi nói:

- Chào ông đại diện, chẳng mấy khi ông quá bộ đến chơi, mời ông ngồi xơi trầu.

Đại diện Thời đặt chiếc mũ xuống và ngồi vào tấm phản. Mặt đỏ lựng, hắn cất cái giọng khè khè phả mùi rượu:

- Thím ở nhà một chắc à? Thằng Đường đi mô?

- Dạ, hắn đi trâu chưa về.

Cầm một miếng trầu do thím Chuyên đưa, hắn mở trầu ra, dùng móng tay út têm lại vôi, đôi mắt nhỏ cười nhắm tịt lại:

- Người xưa nói cũng hay thiệt: "Ăn trầu phải mở trầu ra … ". Vô nhà loại A thì cũng phải cảnh giác kẻo rạt gáo ra mô không biết. Hi hi … nói cho vui thôi. Chỗ bà con có lẽ mò lại bỏ thuốc độc thuốc ông đại diện, thím hé? Hi hi …

Vẫn cái dáng thong thả, hắn vấn một điếu Cẩm Lệ nhỏ như tổ sâu kèn và dán lên môi. Hắn vốn nghiện trầu và thuốc lá. Trước thì thuốc Cẩm Lệ mụ Thơi, sau này thì đòi cho được thuốc lá bà Cửu Ới trên Huế.

Hít một hơi thuốc xong, hắn mới lè nhè, hai bàn tay xoa xoa:

- Thím này … Nói gần nói xa … Tui không giấu chi thím. Xã giao cho tui tới gặp thím có chút việc. Chả là nội trong mười hôm nữa có tổ chức ăn mừng xã ta hoàn tất chương trình "bình định". Làng xã có an cư thì dân mới lạc nghiệp. Nên chỉ mấy ông trong hội đồng cũng có nhắm con trâu của thím.

Nghe câu "nhắm con trâu của thím", đang đứng, tự nhiên thím rùng mình. Mới hôm qua, thím có nghe loáng thoáng là xã đánh tiếng mua con trâu ấy. Chừ thì tên đại diện ngồi chèm bẻm trước mặt và n ói ra điều đó rồi. Không còn là c huyện đồn đại nữa. Hơi tái mặt, thím lặng người đi. Hắn giục:

- Răng đó? Thím có ưng để cho xã bắt không?

Hắn nói răng, bắt trâu hay bắt người? Hắn coi mình như con cá nằm trên thớt, đáng chi … Thím quay mặt về phía hắn, chậm rãi:

- Thưa ông đại diện, dân của xã thì nhờ xã chứ nhờ ai nữa. Ông coi nhà tui mẹ goá con côi, chén cơm hột muối, trăm sự trông vô nơi con trâu…

Hắn ngắt lời thím, giọng hơi gắt:

- Mà xã có lấy không mô?

- Dạ, tui cũng có biết là xã mua.

- Ờ, xã không ép. Thuận mua vừa bán thôi!

- Nhưng thời buổi ni cấy mấy sào ruộng, phân tro không có … Nên chỉ thưa với ông để ông trình với xã cho mẹ con tui nhờ. Thiếu chi nơi trâu to bò béo …

Hắn gật gật đầu, thịt ở đôi vai tròn lẳn rung rung.

- Ừ, xã cũng nhắm em xem chị cả đó, chứ có phải không khao chi! Mua cho thím là đem vốn liếng tới cho thím đó. Ai trong xã ni mà không thấy máy cầy của Kêbôta của chánh phủ đem về phát cho dân? Thiệt to hơn cha mẹ lo cho con ra ở riêng nữa. Lo giống lúa thần nông ni, mở lớp huấn luyện lái máy cày ni, lo phân, lo máy nước, lo chích thuốc chữa bệnh dịch cho gà, cho trâu … Gần sáu chục, cũng đã hai thứ tóc trên đầu, tôi chưa thấy khi mô bà con nông nghệ ta được như thời buổi ni cả. Thím có nghe nói không? Chánh phủ lo bớt cho cả cái tiền chuyên chở máy cày từ bên Nhựt Bổn về. Một cái máy cày Kêbôta đúng 160252 đồng, không bớt một xu chứ ít ỏi chi …

Thím Chuyên thăn thỉ giọng đều đều:

- Dạ tui cũng biết rứa, nhưng nhờ xã nghĩ lại cho, hai mạ con chân yếu tay mềm. Giữ con trâu, nhờ bà con cày cho năm bảy sào kiếm một mùa đôi ba thùng lúa, đắp đổi nuôi nhau. Nói vô phép ông, hai mạ con tui ăn mắm mút dòi, bòn khi bó rau muống, khi con dạm, khi con tép … có mô mà đủ trả tiền cày ngàn tám trăm đồng một mẫu? Thiệt chạy bay tóc trán không ra trăm bạc, chứ gần hai ngàn tiền xăng, tiền công?

Thím vẫn đứng dựa cột nhà. Yên lặng. Thới ngồi nhai trầu chóp chép. Đôi tai vểnh nghe ngóng, mắt nhìn trước nhìn sau. Từ lúc ở nhà ra đi, đại diện Thới đã nghĩ đến những lý lẽ của thằng trưởng đoàn bình định. Thằng cha nớ nói phải: xã ni bình định tại chỗ, không tập trung ráo làng nhưng phải rào lòng dân lại. "Tranh thủ khối óc và rái tim" mà! Đã tát nước bắt cá thì phải tính cho gọn. Không khéo mìn nổ trong bụng lúc mô không biết. Sau tết Mậu Thân chỉ quét vôi xoa mấy câu khẩu hiệu của Việt Cộng ở đình làng rồi viết mấy câu mới lên, không đủ! Phải dùng kìm mà nhổ, dùng kìm mà cắt những cái chi Việt Cộng đóng đinh trong óc người dân. Dân làng ni phải tẩy não hết, tẩy não hết! Hè, con trâu của nhà thím Chuyên này giống như cái gai đâm vào mắt. Con trâu béo, cầy hay, cả làng ai cũng khen. Lại còn khen trước mặt mình nữa chứ. Không tống khứ đi cho rảnh mà còn lù lù đó.

Nhả bã trầiu ra cầm ở hai đầu ngón tay, thè lưỡi liếm hai bên mép, hắn nhìn thím:

- Chà, cũng mau quá, sắp được hai cái giỗ của chú rồi thím hè!

Câu nói của hắn như lát dao khía sâu vào vết thương vừa kín miệng của thím. Bất thình lình thím đặt tay lên chiếc khăn. Thím biết hắn nhắc khéo đến tình thế nguy hiểm của gia đình loại A như thím và người chồng thím đã hy sinh hồi 1968 giữa cánh đồng Lang Xá Bàu.

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2002      

  

 

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn