Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Trần Kim Trắc

NHÀ VĂN TRẦN KIM TRẮC

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Kim Trắc

Sinh năm: 1929

Nơi sinh: Chợ Gạo - Tiền Giang

Bút danh: NT và Trần Kim

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

  •      Cái lu (1954)

  •      Con cá bặt tăm (in chung, 1990)  >> Chi tiết

  •      Ông Thiềm Thừ (1994)

  •      Hoàng đế ướt long bào (1996)

  •      Cái bót (in chung, 1989).

  •      Tập truyện ngắn  >> Chi tiết

  •      Chấp nhận   >> Chi tiết

  •      Trăng đẹp mình trăng   >> Chi tiết

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Cái lu

Độ ấy trời đã hết  mưa. Với đời sống của đồng bào vùng rẫy nhiều lao lực dưới nắng gay gắt mùa khô, nước uống là điều rất quan trọng. Nhà nhà đều có sắm lu để lóng nước uống, Trong cái gia tài của người dân ở xa mới đến phá rừng lập rẫy, cái lu cần thiết lắm. Bộ đội về đóng quân đã năm hôm rồi. Tình quân dân thật là khăng khít. Bộ đội ngoài công tác tăng gia sản xuất, học tập không khi nào quên bốn  điều trong “tứ quan bất khứ” nghĩa là nếu chưa quét nhà, chưa xách nước, chưa nói chuyện kháng chiến, chưa kiểm thảo với nhân dân là chưa có rời đi nơi khá đựơc.

Bữa nọ, anh em đang nghỉ trưa, đồng chí Danh nhân giờ rảnh lấy tỉn đi ra đìa xách nước đổ vào cái lu dầm ngoài mái hiên. Tỉn nước nặng qua, thêm từ ngoài đìa vào nhà đường xa, đồng chí Danh phải bước rất nhanh. Bao nhiêu bắp thịt trong người lồ lộ ea cánh tay, bộ ngực, căng gân cổ, trông thật là khoẻ. Nước xách được hai chuyến, Danh kê tỉn vào miệng lu trút nước. Chẳng may miệng tỉn trơn, đồng chí sút tay buông trọn cái tỉn nặng vào lu nghe “cảng” một tiếng. Lu bể nhiều mảnh. Nước xoà ra lai láng. Bà Tư chủ nhà đang loay hoay dưới bếp, tay còn cầm đôi đũa gắp than, bươn bả chạy lên nhìn đống miểng vụn rồi quày quả trở xuống bếp không nói tiếng gì.. Trên gương mặt vẻ không bằng lòng hiện rõ.

Đồng chí Danh biến sắc, chẳng dám nói gìm bỡ ngỡ nhặt miểng vụn. Các anh em trong tiểu đội nhìn nhau chẳng biết nói làm sao.

Dẹp xong, Danh đi xách tỉn nước vào nhà để xài đỡ, vừa đi nỗi mình càng rối như tơ vò. Mượn phải trả, làm hư hỏng phải bồi thường, tinh thần kỷ luật ấy đối với dân hiện rõ trong tâm trạng của đồng chí.

Thoáng nhìn qua kẽ vách dưới nhàm bà Tư đang ngồi ở góc ván, chân dưới chân trên, tay chống cằm, chưa nói gì, nhưng nét giận không thể nào giấu được.

Đồng chí Danh muốn bước xuống nhận lỗi mình trước bà Tư nhưng thấy vẻ giận chưa nguôi đành sượng bước nơi ngưỡng cửa chẳng biết liệu thế nào.

Chị Hai, con bà Tư thấy thế chẳng nỡ nào bèn lên tiếng trước “thôi mấy anh lỡ tay chứ anh Danh đâu có muốn như vậy, để bán khoai rồi tôi mua cái khác chớ gì. Má tôi còn giận anh chưa nói được đâu”.

Thế là cuộc nhận lỗi phải hoãn lại chờ khi nào bà Tư nguôi giận. Không khí vui tươi trong tiểu đội một phần bị cắt đứt. Đồng chí Danh lo lắm. Một cái lu gần hai ngàn đồng, mình làm sao bồi thường cho được. Các anh em trong tiểu đội có nghĩ đến, nhưng đã đem gởi ủng hộ miền Đông, sao đủ?

Trong khi ấy, bà Tư không giằn được sự tiếc rẻ của mình, cứ chị Hai và mấy đứa em trong nhà mà rầy mãi. Điều ấy làm cho anh em càng khổ thêm, riêng đồng chí Danh đã chưa tìm được lối ra giải quyết sự bồi thường để vẹn tiếng vì dân, càng thêm bối rối.

Nơi xuất bản: NXB Văn học, 2004