Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Trần Hữu Tòng

NHÀ VĂN TRẦN HỮU TÒNG

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Hữu Tòng

Sinh năm: 1939

Nơi sinh: Nghi Xuân - Hà Tĩnh

Bút danh: Trần Hữu Tòng

Thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ

Các tác phẩm:

  •     Trung với Đảng, hiếu với dân (1965)

  •     Bên dòng Păng Pơi (1971)

  •     Bầy cọp núi (1972)

  •     Tín hiệu bình yên (1980)

  •     Cơn lốc rừng thông (1981)

  •     Sau màn sương lạnh (1982)

  •     Dấu vết để lại (1983)

  •     Ngôi sao biên cương (1985)

  •     Đất núi Mường Khương (1987)

  •     Bùng nổ (1988)

  •     Cây thập tự vàng (1989)

  •     Đằm thắm (1995)

  •     Mái tóc anh (1996).

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Hương gỗ đêm rừng

Đội tuần tra nghỉ lại trong một hang đá. Bếp lửa được nhen lên. Những dăm gỗ tung tươi bén lửa nổ bem bép và bốc lên mùi thơm thoang thoảng nhưu mùi nhựa thông. Trong khoảng khắc mùi thơm đó loang vào không khí át hẳn mùi ẩm ướt của lá mục và mùi tanh mốc của rêu đá.

Đội trưởng Hiền đứng khom người trước của hang. Anh nhìn ra xung quanh. Cái áo mưa anh đang mặc xoà rộng ra. Trông anh như một con phượng hoàng đất sắp vỗ cánh bay lên... Trước mặt anh, toàn một màu trắng đơn điệu, tẻ ngắt của mây chiều cuối năm và sương lạnh. Cây cối mờ nhoà đi. Núi rừng xung quanh như xa hẳn ra. Và, những hạt mưa đêm đã bứat đầu gõ đều đều lên ngọn lá. Anh đội trưởng rút cuốn sổ tay trong bao băng đạn ra. Phân chia giờ gác đêm nay cho chiến sĩ xong, anh trở vào bên bếp lửa. Lúc nào anh cũng lao đi những bước thật dài như vậy. Bước đi của anh lẹ làng, khoẻ khoắn. Đó là thói quen của anh, của một người săn thú rừng từ bé.

Các chiến sĩ ngồi hơ những bàn tay giá cóng lên ngọn lửa, ánh mắt họ đều dồn cả về phía đội trưởng.

Đọc xong bản phân chia giờ gác, người đội trưởng đưa mắt nhìn một lượt các chiến xi. Ánh mắt anh luôn chia sẻ với đồng đội tất cả niềm vui và nỗi buồn nhỏ của từng người. Giờ đây, ánh mắt của anh như muốn hỏi các chiến sĩ “Các đồng chí thấy đã được chưa?”.

Bỗng, binh nhất Phấn cài vội khuy áo rồi đứng dậy. Anh vẫn đứng dạng chân như khi đang ngồi xổm. Bởi anh đã quen lối đứng dạng chân chèo mà cái nghề vào lộng ra khơi lượn quăng sóng ném biển cả đã rèn cho anh như vậy.

- Báo cáo đồng chí đội trưởng - giọng nói trầm, ấm bằng ngày của Phấn, hôm nay khàn đi - tôi xin được gác phiên đầu tiên ạ !

Đôi lông mày rậm của người đội trưởng dãn ra. Cặp mắt anh trở nên sắc lạnh nhìn thẳng vào Phấn.

Khói bếp bay lên gặp làn sương lạnh, vẩn tròn lại như hình của những dấu hỏi lớn.

Giọng đội trưởng nghiêm nghị:

- Tại sao vậy, đồng chí Phấn ? - Phấn khịt mũi vài cái nhè nhẹ. Anh tránh cặp mắt dò hỏi cảu đội trưởng. Cặp mắt một mí của Phấn nhìn lảng sang chỗ khác, chỗ những dòng thạch nhũ và mắt bầy dơi đậu trong đấy hang bắt ánh lửa sáng lên lấp lánh như những chấm sao trong bầu trời khuya. Giọng Phấn khẩn khoản hơn:

- Xin đồng chí cho tôi được gác phiên đầu tiên !

Giọng đội trưởng như một mệnh lệnh:

- Đồng chí Phấn, sao lại như vậy ? Đêm qua chúng ta thức trắng cả. Đêm nay đồng chí gác từ một giờ đến ba giờ mười lăm phút, sau đó tôi gác đến sáng là đúng rồi. Gian khó chúng mình chia sẻ cùng nhau chứ ?

Nói xong câu đó, đội trưởng Hiền đứng lặng nhìn từ đầu đến chân người chiến sĩ của mình với ánh mát ngạc nhiên như lần đầu nhìn một người xa lạ từ đâu mới đến... “Sao hôm nay Phấn lại trở chứng như vậy? Phấn là một chiến sĩ tốt. Anh lầm lì, hiền như con thuyền đánh cá, lại coi thường sóng bão ở quê anh...Hình ảnh trước dòng nước thác chảy xiết, giá buốt, một chiến sĩ xung phong cột dây vào người nhảy ùm xuống, rẽ nước bơi sang một cách khoẻ khoắn như con kỳ đà quen suối. Anh cột một đầu dây vào gốc cây to bên kia, để cả đội tuần tra nắm dây lần sang. Người chiến sĩ biên phòng dũng cảm đó, giờ đây không hiểu vì cớ gì lại thoái thác một phiên gác bình thường vào lúc nửa đêm ? Sao lại có sự trái khoáy như vậy ?”.

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Thanh Niên, 2004