Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Trần Đức Tiến

NHÀ VĂN TRẦN ĐỨC TIẾN

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Đức Tiến

Sinh năm: 1953

Nơi sinh: Lý Nhân - Nam Hà

Bút danh: Trần Đức Tiến

Thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn

Các tác phẩm:

  •     Linh hồn bị đánh cắp (1990)

  •     Bụi trần (1992)

  •     Ốc mượn hồn (1992)

  •     Vương quốc vắng nụ cười (1993)

  •     Bão đêm (1993)

  •     Hồn biển (1995)

  •     Đồng hồ báo tử      >> Chi tiết

  •       Những con cá cờ      >> Chi tiết

  •     Một người khác

  •     Tiếng gọi và những con cá cờ (1986)

  •     Làng cũ và mười lăm năm mưa xói (1990)

  •     Thằng Cúp (1992)

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Đồng hồ báo tử

I

Y chồm đứng dậy, và chỉ trong chớp mắt, đã nhảy phốc tới bên chiếc giá sách kê sát tường. Cái động tác bất thường này hơi thiếu chính xác, khiến y phải quờ hai tay ra phía trước, đề phòng một sự va chạm mạnh. Rất may đều đó không thể xảy ra. Đêm đã hoàn toàn yên tĩnh. Y khẽ xoay người qua một bên, đâu óc đã bớt quay cuồng. Giấc ngủ được xoá bỏ. Các giác quan theo nhau hoạt động trở lại. Những cái giá sách ram ráp, ngưa ngứa cọ vào một bên tai, một bên má. Mùi mồ hôi của cứt gián, mùi khô ráo của bụi bặm len lỏi vào trong hai cánh mũi mở rộng. Tất cả những dây thần kinh ở trong người căng hết lên để nghe ngóng… Từ trong sự tĩnh mịch sâu thẳm của bóng tối, sâu thẳm của cõi chết, sự sống của chiếc đồng hồ đã được hồi phục qua tiếng động cựa mơ hồ, đứt quãng, tích tắc, giống như sự hồi phục của một trái tim khốn khổ sau cơn nhồi máu. Tích tắc- tích tắc. Nhịp đập cơ khí đều đặn, mạch lạc dần. Vậy là nó chưa chết, cái đồng hồ báo thức của y. Bây giờ không chỉ có tiếng đồng hồ chạy. Trống ngực y cũng bắt đầu khua rộn rã. Thình thịch… Tích tắc… Thình thịch. Tiếng gõ của cả hai quả tim, một của người, một của đồ vật, trộn lẫn vào nhau, nương tựa lẫn nhau, hối hả, vang động, tràn ngập trong căn phòng tối đen.


II

Câu chuyện có lẽ được bắt đầu từ một buổi sáng cách đây khá lâu. Dạo ấy y còn công tác ở Tổng cục H. ngoài Hà Nội. Buổi sáng ở cơ quan mở đầu có vẻ như vô sự, nếu sau ít phút không có hồi chuông điện thoại bất ngờ đổ dồn. Y nhấc máy, theo thói quen, sẵn giọng:

- Ai?

- Cậu đấy à? - Đầu máy vang lên một giọng đàn bà khàn khàn đầy vẻ giễu cợt.

Bà gác cổng khu tập thể! Một bà cô gần năm mươi tuổi, không chồng, ngang ngược  và đồng bóng, ngay đến Tổng cục trưởng cũng phải gờm, chứ đừng nói gì đến loại cán bộ tép như y. Y nhận ra thế và vội vàng đổi giọng:

- Có việc gì đấy, bà chị?

- Báo cho cậu biết, liệu mà thu xếp về! K. vừa phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện.

Cúp máy. Y chợt thấy nhẹ bỗng người. Có vẻ như là vô lý, nhưng quả thật, đấy là trạng thái tinh thần vụt thoáng trong khoảnh khắc đầu tiên sau khi nhận được hung tin.

Căn phòng mười mét vuông trong khu tập thể, y ở chhung với K., hai chiếc giường cá nhân, một góc đun nấu suốt ngày sực nức mùi dầu hoả, mùi bụi bặm và đủ thứ mùi lưu cữu khác. K. là bạn đồng nghiệp của y, một gã đàn ông khù khờ, tốt bụng và nghèo khổ. Anh ta rất ít nói, cái dáng đi càng lạ lùng, vật vờ, thất thểu ngoài sân khu tập thể. Một người giàu lòng trắc ẩn sẽ phải thót tim lại mỗi khi nhìn thấy K. đi. Đấy không phải là bước chân của con người trên mặt đất bằng. Đấy là sự chuyển động thập thõm của một thứ hình nhân, bất kỳ lúc nào cũng có thể đổ lăn kềnh. Cái bóng ấy lang thang, chập chờn nhưng quyết không chịu đổ qua cửa những căn phòng buổi tối, rình cơ hội để sà vào, định vị rất lâu bên một hội chơi bài, một cuộc tụ tập chuyện phiếm, tiêu thụ ké rất nhiều thuốc lào và nước trà… Đã bảo là K. rất nghèo khổ. Y chẳng giàu có gì đã đành, nhưng K. còn tệ hơn. vì anh ta đông con. Cái ổ chó cái lẫn chó con lúc nhúc mãi tận quê xa- K. vẫn âu yếm gọi vợ con như vậy, vừa âu yếm vừa hằn học- chưa lúc nào chịu buông tha K. Mỗi tuần anh ta phải đạp xe năm chục cây số về quê thăm vợ một lần, để chu cấp tiền nong và vỗ về tình cảm. Chính vì vậy, ở tập thể, ăn chung với y, K. đã xung phong nhận làm chân kế toán. Nghĩa là phải ghi chép, tính toán các khoản chi tiêu của cả hai người cho mấy bữa ăn hàng ngày. Chiều chiều, cơm nước xong, K. ngồi thu lu bên bàn, quyển sổ mở trước mặt, nghiền ngẫm từng xu đong gạo, mua dầu, gói tăm, quả ớt… Để rồi cuối tháng tổng kết, K. lại dứt tóc gãi tai, nhăn nhó cười: "Tháng này mình lại âm, để mình thong thả chi bù tháng sau…"

Bù tháng sau, bù tháng sau! Cái điệp khúc không thay đổi từ tháng này qua tháng khác, quen nhờn đến nỗi, có lúc y chợt giật mình, ngờ ngợ như bị K. cho ăn quả lừa.

Có lẽ vì thế chăng, vì thế nên bây giờ y tâng tâng đạp xe ra chợ? Buổi sáng chưa kịp ăn gì. Lúc dắt xe đi làm, vẫn thấy K. vẫn còn nằm trong màn. Nhưng dù K. có dậy sớm đi nữa thì cả hai cũng không có lệ cùng nhau ăn sáng… Bây giờ, y sẽ mua hẳn một cái lưỡi lợn. Y rất khoái ăn lưỡi, chết thèm chết nhạt vì món lưỡi từ bao lâu nay. Không phải y không đủ tiền để ăn, mà chỉ vì sự bất tiện của phương thức ăn chung. Ăn chung với ai đã đành, đằng này lại với một ông luôn luôn mang dấu âm khi tổng kết!

Một mình với cả một cái lưỡi lợn luộc bốc khói, thơm nhức răng. Mấy đồng bạc rượu trắng càng tăng thêm sự bằng lòng cho kẻ vừa bất ngờ được hưởng trọn niềm độc lập. Vừa vặn, sạch sẽ, hệt tác phong ăn uống của người Đức! Mồ hôi tháo đầm đìa, chảy từng dòng buồn buồn dễ chịu trong tóc, trên sống lưng. Tắm? …

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2003