Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Trần Chinh Vũ

NHÀ VĂN TRẦN CHINH VŨ

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Danh Thuyên

Sinh năm: 1939

Nơi sinh: Hoài Đức, Hà Tây

Bút danh: Trần Chinh Vũ

Thể loại: tiểu thuyết, thơ

Các tác phẩm:

  •     Đường vào trận (1978)

  •     Đối thoại Sông Đà (1985)

  •     Sau bước lỡ lầm (1992)

  •     ở phía sau năm tháng (1994)

  •     Con của những người phong kiến (1995)

  •     Vùng trời không bình yên (1996)

  •     Bản du ca (1994)

  •     Khoảnh khắc mưa chiều (1996).

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Cát chìm đáy cốc

Anh càng khóc to hơn. Chị cũng khóc. Những giọt nước mắt mặn mòi, sao anh quên được. Phải vất vả lắm chị mới gỡ được bàn tay của em, để chạy theo đồng đội. Chị đi liền một mạch năm sáu năm, hoạ hoằn lắm mới có một lá thư về; những tờ giấy nhàu nát sương gió dọc đường, qua bao nhiêu bàn tay chuyển mới tới được. Thư nào chị cũng dành ra ít dòng để nói chuyện với em trai, nhắc em năng gội đầu bằng quả bồ kết để tóc không có chấy; không được đi chạy nắng hay ra ao để tắm một mình; chịu khó dậy sớm để học bài "học buổi sáng chóng thuộc lại nhớ lâu"; cả chuyện đi tiểu trước giờ đi ngủ kẻo  có lúc ngủ mê lại làm ướt quần "chị không có ở nhà, để nhắc tự em phải nhớ lấy".

Trong tâm tư của chị, lúc nào anh cũng chỉ là đứa em trai bé bỏng, dại khờ như con chuồn ngô, anh thường dùng nhựa mít chấm được; lúc nào chị cũng chỉ lo không ai chăm sóc sự ăn ở của em, trong lúc bố đi công tác xxa, còn mẹ suốt ngày quần quật với công việc đồng áng. Ở mỗi lá thư của chị, ngoài tình cảm ra, anh còn cảm nhận được những vách hầm chữ A khét lẹt khói đạn bom mỗi ngày; bụi bậm từ mỗi hố bom đoạn đường chị phải san lấp; những ngày mưa ròng người hôi rình lên, quần áo không giặt được, cả tiếng sột soạt của những con bọ cạp ẩn dưới các lớp lá mục. "Nọc của nó rất độc, châm trâu, trâu cũng chết, còn người bị nó châm, ít nhất cũng phải nằm viện mất một tuần".

Anh khao khát gặp lại chị, hình dung ra chị trong trí nhớ của mình. Mái tóc chị không còn xanh óng như ngày còn ở nhà, da dẻ xạm đi, gương mặt đã mất đi nhiều nét vui nghịch của thời con gái, cả đôi mắt lấp lánh các tia vui của chị.

Ngày chị về anh lại không có nhà, một tháng trước đó, anh được nhà trường chọn gửi đi học ở Liên Xô. Đến lượt anh viết thư về động viên chị.
"Nhà chỉ có hai chị em. Em đang ở xa, nhờ chị thay em trông nom bố mẹ. Chị đừng quên phần hạnh phúc của riêng mình. Cái tuổi của chị đã phải nghĩ đến điều ấy".

Tiếng động lại nổi lên từ cái ô dành cho chị nằm. Những ngày gần đây anh nhận ra tác dụng của viên thuốc, đã không đủ cho chị nằm yên từ tối đến sáng, thường là chị thức giấc nửa chừng. Anh cũng đã nghĩ đến chuyện đề nghị với bác sĩ cho tăng liều thêm, nhưng vẫn chưa dám, mặc dù vợ anh đã nói tới chuyện đó.

- Cứ phải cho chị ấy uống hai viên đi anh, cho nhà cửa được yên và mình mới có thể ngủ được.

- Đợi thêm xem sao, sự tăng liều nào cũng là thêm sự nguy hại cho sức khoẻ em ạ.

Vợ anh lại thôi không nói nữa. Anh hiểu sự căng thẳng  chị phải gánh chịu hàng ngày, đến độ phải nén xuống không ngừng. Chị cũng như anh thêm từng giờ ngủ yên tĩnh, thêm được trò chuyện cùng người thân bằng cái giọng nhỏ nhẹ vốn có; không muốn phải gào lên khi giảng giải cho con một bài toán khó hoặc một đề tập làm văn có nhiều ẩn ý. Nhưng còn sức khoẻ của người bệnh.

Đúng là chị đã thức dậy, chị bắt đầu khua gõ lên vách gỗ, miệng lảm nhảm những câu nói vô nghĩa. Ngày xưa người chị họ của bố cũng đã điên rồ. Mỗi lần anh được theo bố về quê, lại bắt gặp cái hình ảnh bất di bất dịch của bà ở góc cái căn nhà ngói năm gian. Người đàn bà mỗi lúc một gầy đi và đôi mắt toét  có bờ, mỗi lúc một dầy thêm mãi. Chỉ có điều bà không la hét, chỉ có ngừng lắc sợi xích sắt  xủng xoảng và một câu hát chưa lúc nào thay đổi, cho đến lúc bà chết.

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 2002