Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Tô Đức Chiêu

NHÀ VĂN TÔ ĐỨC CHIÊU

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Tô Đức Chiêu

Sinh năm: 1942

Nơi sinh: Gia Lộc - Hải Dương

Bút danh: Tô Đức Chiêu

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

  •     Ngày về (1978)

  •     Chàng rể (1990)

  •     Chân pháo (1986)

  •     Về trong mưa bão (1991)

  •     Nhớ đàn chim vàng anh (1996).

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Người đàn bà nói chuyện một mình

Chợ Trương hôm nay đông thật. - Chị vừa te tái bước về vừa nghĩ khi đôi bàn chân chấm phảy ngang sang bên khóm tre làng Kim Trang. Quỷ quái! Sao khóm tre này lại vẫn gần như nguyên si tới tận hôm nay. Năm mươi năm rồi còn gì. Một nửa thế kỉ đã trôi qua. Gần một cuộc đời con ngưòi đã trôi qua. Nói rằng anh chị yêu nhau cũng xuất xứ từ khóm tre này kể ra cũng hơi thái quá nhưng mối tình của họ gắn với bao câu chuyện xoay quanh khóm tre. Kim Trang hồi ấy là làng tề. Tề hai mang hay ba mang chẳng rõ mà chỉ biết rằng ngày ngày viên xã uỷ vẫn áo lương khăn xếp lên trình quận trưởng Thọ Trương cùng lúc mấy anh du kích làng cải trang làm đồng bám địch để báo tin ra vùng căn cứ. Lính quận Trương rất hay ra Kim Trang để uy hiếp làng Thị và làng Cao là hai thôn đã phá tề nối liền với vùng tự do Gia Lộc. Ninh Giang ở phía sau. Khóm tre đầu làng Kim Trang lại nằm ngay trên bờ đê cao cao làm điểm tựa cho lính quận mai phục. Du kích làng Thị vận động theo con ngòi nổi tát Ao Phe tới Chùa Dền bố trí đánh chặn và du kích làng Cao theo đê Chùa mới tới trận địa ở Chùa Mới. Bên này thấy bên kia nhô đầu lên thì nổ súng và ngược lại bên kia phát ra bên này thì các tay súng đua nhau khai hoả. Cũng có khi chẳng bên nào nhìn rõ bên nào và cứ bắn vung tí linh rồi lặng lẽ lui quân thu hồi trận mạc.

Nhất thiết anh kéo chị ở lại.Tì vai, áp má, Bóp cò. Hãy hướng đầu ruồi vào mép phải dưới chân khóm tre. Tất nhiên bóp cò chỉ là giả và địch đã rút. Còn tì vai là thật, áp má thì hơn cả thật. Rồi anh ép chị vào tường đất bên thành công sự và bàn tay lần tìm. Chị rẫy rụa kêu lên: Đừng, đừng. Người ta trông thấy, chết bây giờ. Của anh cả mà. Em giữ gìn và để dành cho anh mà.

Bằng ấy năm trôi qua với biết bao đổi thay mà khóm tre vẫn còn đó. Khác chăng là nó cằn lại, lá gằn và vàng úa, thân cây mốc xám mốc thếch như bện vào nhau vì bị lũ trâu làng cọ mình hết ngày này sang tháng khác, Chỉ sợ người ta lại phá đi khóm tre kỉ niệm này. Thời ầm ầm đua nhau xây dựng hợp tác với khẩu hiệu kêu đến vang trời đã chôn vùi không biết bao nhiêu cái mà chị cho là đẹp đẽ của một giai đoạn vàng son máu lửa. Chị bước nhanh. Chẳng mấy chốc đã tới Chùa Dền để tạt ngang mảnh ruộng cấy lúa đang thì đứng cái. Phải rồi, cũng chính là thời khắc này những năm trẻ trung tươi đẹp thế nào, anh dũng chao châu chấu cơm. Gớm, mà làm sao ngày ấy những thứ ăn được dễ dàng kiếm ra là vậy. Lúa mùa xanh biêng biếc và đứng thẳng, lá cứng ra xiên chéo và sắp sửa có đòng, nắng vàng rực và hơi ong ong, hơi khô chứ không gay gắt chói chang, chim chiền chiện bay về lượn tít trên cao, chim dẽ gọi nhau thoang thoảng dưới ruộng nước xập xềnh, ấy là lúc châu chấu cơm chẳng hiểu từ đâu xuất hiện hàng đàn. Loại châu chấu này nhỏ, cánh ngắn không bay nổi chỉ nhảy rất nhanh, từ lá lúa này sang lá lúa khác. Gío heo may thổi về, không gào thét như khi mùa đông đến hẳn, cũng không lững lờ như mỗi lần hoa lá tàn phai mà xuân chưa vội vàng xuất hiện, cứ từng đợt, từng đợt nhẹ nhàng và se se chạy trên ngọn lúa làm cả cánh đồng mênh mông gợn sóng lăn tăn và các chú chấu cơm hoan hỉ bật càng tí tách.  

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học, 2005.    

 

 

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí