Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Phan Tứ

NHÀ VĂN PHAN TỨ

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Lê Khâm.

Sinh năm: 1930

Mất năm: 1995

Nơi sinh: Quế Sơn - Quảng Nam.

Bút danh: Phan Tứ.

Thể loại: ký, truyện ngắn, tiểu thuyết.

Các tác phẩm:

·            Về làng (1964)

·            Gia đình má Bảy (1968)

·            Mẫn và tôi (1972)      >> Chi tiết

·            Trong mưa núi (1984)

Giải thưởng văn chương:

·            Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.

Giới thiệu một tác phẩm:

Về làng

Ông Sần tụt đôi guốc ra cầm tay, trèo lên chỗ dốc trơn trước miếu Cây Đa, mắt lấc láo coi có ai gác không. Thằng cháu xách chai nước mắm và chai dầu lửa buộc chung chạy vượt lên, dừng lại trước miếu, ngửng cổ đọc cái gì. Ông vừa đi tới, nó kêu:

-          Nè ông, tờ lệnh của Giải phóng. Các ảnh về tới đây rồ, mau quá hè.

-          Mô Phật, đi cháu. Đại bác bắn bây giờ.

-          Ca dao nữa ông: “Bẩy năm đóng thuế quốc gia, để mua súng Mỹ phá nhà giết dân. Úi, nhiều thứ lắm. Họ vẽ thằng Mỹ kỳ chưa?

-          Cái thằng. Đi, nói không nghe hả? Tàu bay tới rồi chạy đâu?

Ông đi thẳng qua miếu, chỉ kịp ngước nhìn sơ những tờ giấy to viết và vẽ xanh đỏ. Chỗ này trống trải quá nên ông vội đi cho thoát. Về đến làng sẵn hầm hố, sẵn con cháu, có trúng bom đạn cũng không ra cái người chết đường chết chợ.

Ông Sần đang trở về làng

Cách đây đúng mười một hôm, giữa đêm trong ấp chiến lược bỗng nổi lên mấy chục phát súng cắc bụp. Mười phút sau có tiếng loa, nghe trọ trẹ như người rao cố uốn lưỡi cho khác giọng: “Đồng bào chú ý: Quân giải phóng đã về tiêu diệt chánh quyền Mỹ-Diệm và giải phóng thôn nhà, ra lệnh cho toàn thể đồng bào tập trung dự mít tinh tại trụ sở, a lô a lô!”. Ông Sần nửa tin nửa ngờ, theo bà con ra chỗ họp thì thấy cả một xâu một xốc bọn hội đồng, thôn trưởng dân vệ, công an, cộng tác viên mật bị trói ngồi đấy, thanh niên trong thôn cầm súng đứng gác. Còn Quân giải phóng thì nghe nói rằng đông lắm chứ không thấy ra mặt, chỉ có những bóng đen lừ lừ đi qua lại ngoài đường lớn.

Mấy ông cán bộ Mặt trận cũng người trong xã đứng ra kêu gọi đồng bào vạch tội ác ôn đầu sỏ. Bà con ngó mặt nhau, thậm thụt. Một người bật ra nói trước, một người nữa, thế là ầm ầm ào ào cả chục người giơ tay xin tố. Ông Sần không dám tin mình  đang tỉnh ngủ. Ông hồi hộp nín thở nghe bà con vừa nói vừa khóc. Mô Phật! Sao ta lật được chính quyền nó gọn gàng quá vậy? Cái làng này lọt vào tay dân thật rồi ư? Tất cả những nỗi ngậm đắng nuốt cay trong bảy năm qua đã đến lúc thanh thoả ư?

Mười mấy người đã vạch tội bọn ác ôn. Nếu xảy ra tai vạ đã có họ đứng mũi chịu sào hứng lấy trước. Vậy thì ông nói, ông nói hết, ông ngửng cao đầu chửi to vào mặt cái bọn đại gian ác cho nó hả cục lửa nuốt trong bụng. Ông giơ tay  rõ cao gọi chủ toạ, ông xăm xăm đi lên trước ánh măng sông, ông chỉ tay giữa mặt thằng đại diện ác ôn mà thét: “Mày còn nhớ mày đánh tao bao nhiêu cây sắt không? Mày cướp của tao bao nhiêu ruộng, khai đi! Đồ quỷ, đồ chó Mỹ!”…

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học, 2004