Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Ông Văn Tùng

NHÀ VĂN ÔNG VĂN TÙNG

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Ông Văn Tùng

Sinh năm: 1936

Nơi sinh: Nam Đàn - Nghệ An

Bút danh: Ông Văn Tùng, Hải Phong, Tường Vân

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

  •     Khát vọng đau đớn (1989)

  •     Pháp trường trắng (1989)

  •     Những linh hồn hành quyết (1990)

  •     Những mối tình nghèo (1991)

  •     Biệt thự phù du (1991)

  •     Gót đỏ quyền uy (1992)

  •     Phù phiếm (1992)

  •     Cuộc tìm kiếm vô vọng (1995)

  •     Những kẻ lắm tiền (1995)

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

O chủ tịch làng Yên Lạc

 

Làng đã trải qua nhiều tên rất kêu, rất hợp với thời nhưng đến bây giờ dân vẫn gọi làng mình bằng cái tên cũ: Làng Yên Lạc! Thật giản dị, khiêm tốn và biết phận! Có lẽ là do bốn từ "yên cư lạc nghiệp" mà ra? Xưa, các cụ không mong gì hơn! Làng cách thành phố 15 ki-lô-mét, cách huyện chỉ 5 ki-lô- mét và rất gần đường cái quan, chỉ dập miếng bã trầu đi bộ thôi, nhưng sao mà quê mùa cũ kỹ đến thế! Sau lưng làng là một cánh đồng bán sơn địa khô cằn rồi đến một dãy núi cao, trọc trũi, cằn cỗi, xa trông như một đàn trâu rụng tróc cả lông, phơi những cọng xương sườn cong queo gãy gập và những cái bụng rỗng tối om càng làm cho làng thêm vẻ hoang sơ. Vật duy nhất tô điểm cho vẻ đẹp của làng là con sông Con từ huyện chảy xuống, mấy cái cầu xi- măng vừa mới xây năm ngoái để dân từ làng lên núi làm nương làm trại. Chỉ có thế thôi! Thực ra, nếu để như xưa thì có lẽ làng đẹp lắm. Một ngôi làng nhỏ như thế mà có đến những mấy ngôi đền, chùa, đình, miếu, nhà thánh, động thờ … mà đều được xây dựng vào những vị trí đặc biệt, giữa những cái rú cây cối um tùm hoặc những cây thông, cây đa cổ thụ … Nhưng hiện nay không còn một dấu vết gì nữa, chỉ còn những cồn đất trọc đỏ lòm và những cái vũng bùng đầy cỏ lác. Dấu tích xa xưa chỉ còn lại một ngôi đình đang dùng làm trụ sở uỷ ban, mà chiều chiều o Bảy chủ tịch vẫn ra làm việc ở đấy. Sở dĩ ngôi đình còn được sót lại vì nó vừa to vừa rộng, và những cái cột đình thì phải biết, cao nhìn lút mắt, những mấy người ôm không xuể. Gọi là đình, kỳ thực là còn chút dấu tích thôi, phá dần phá mòn hết, chỉ còn vẻn vẹn ba gian thông thống và các hậu cung đổ ẹp trống hoác phía sau. O Bảy đang thuê Cu Hiên, một anh thợ mộc vườn bào ván bưng lại. Đó cũng là chuyện o Bảy không muốn, nhưng chiều hè, nắng xói vào nom thảm hại quá và cái chính là chiều hôm thứ tư vừa rồi, khi o mở cửa trụ sở thì bỗng một con trâu phóng ra hất o ngã quay lơ xuống đất. Thì ra có con trâu nhà ai chui qua chỗ vách tìm lối thoát, thấy cửa mở sáng trưng liền lao ra thềm, cong đuôi tế một vòng quanh sân rồi giông thẳng. Chiều nay, o phải ra sớm hơn xem hậu cung đã bưng xong chưa. Cái anh chàng Cu Hiên này thì phải kèm riết. Vừa lười, vừa tếu, vừa cẩu thả, hay cớt nhả nhưng lại hay vòi; chỉ được cái trắng trẻo đẹp trai, hễ mở mồm là nói trạng, cười bò ra, đóng vai Lưu Bình không thua văn công tỉnh, con gái theo từng bầy, vợ ghen khóc, anh ta nện cho một trận cẩn thận, rồi lại tiếp tục nay o này  mai o khác, o nào ngon mắt là theo, cứ như con gà sống thấy mái mà không coi sự đời này là cái thá gì cả. Ừ, thì mình khéo động viên cho anh ta làm chóng xong đi, chứ cứ chống hoang trống huyếch có tội chết.

O Bảy, vai quàng túi, tay ôm sổ sách tong tả đi ra đình. Trong túi o có gói thuốc lá Du lịch, và dưới nách trái, o ôm một bó chè xanh rõ to, còn thuốc lào thì hôm qua o đã cho Cu Hiên cả một bánh! Có nước chè chát, có thuốc lào thuốc lá, nhất định Cu Hiên hăng hái phải biết! Còn vòi vĩnh gì nữa đây? Lấy một nửa tiền trước rồi! Mỗi buổi một bó chè rồi. Thuốc lào rồi. THế mà đôi mắt dài vẫn tít lại, tay chìa ra: "O động viên thêm nữa! Có món gì cay cay thì thợ không chê đâu đấy. Chè càng chát, hát càng hay, rượu càng cay, tay càng dẻo đó o Bảy ạ". O Bảy nguýt một cái rõ dài, rồi ngồi vào ghế chủ tịch, mắt nhìn cửa sổ, tay chống má ra vẻ tập trung suy nghĩ công việc, nhưng tai lại nghe anh chàng thợ mộc vườn vừa ướm gỗ, vừa ti tỉ hát. "Cu Hiên hát hay thật!" O Bảy nghĩ thầm. Và dó cũng là một lý do o ra trụ sở sớm hơn. Ở nhà cũng chẳng làm gì.

- Bảy ơi! Bảy!

Có tiếng ai gọi, giọng thân mật khi o Chủ tịch đã đến đầu làng sắp rẽ vào đường ra đình. À, dì Tâm Mượi! Gọi là dì, chứ o cũng không biết dì dượng ra sao, xa, gần, nội ngoại? Đó là do dì tự xưng khi trò chuyện với o, xưng một cách chân tình thực thà thôi. O Bảy cũng chấp nhận cách xưng hô ấy và tự coi như cháu của dì vậy. Dì đã 60, vợ liệt sĩ và nói chung là tốt bụng, nhất là từ dạo o duyệt cấp cho dì khoảnh đất ở chỗ chợ Vạc, giúp dì làm cái quán nước.

- Dì. - O Bảy chào.

- Chứ mi lên trụ sở à? - Dì Tâm Mượi hỏi, mắt cười cười, 60 tuổi mà mắt dì vẫn đẹp, sáng và trong, dì ăn trầu thuốc, răng đen nhưng nhức, môi đỏ bầm, nom khoẻ mạnh, phúc hậu lắm.

- Dạ. - O Bảy đáp và hỏi. - có chuyện chi không dì?

- Có đó - Dì Tâm Mượi nói nhỏ, vẻ quan trọng, đôi mắt lúng liếng, bàn tay để lên má, bối rối một lúc dì nói tiếp: - ví là chuyện chồng con của mi.

- Răng? Dì.

- Có một ông thiếu tá về hưu chết vợ, con cái đi công tác tận Hà Nội, sống một mình, có nhà cửa vườn tược, Đảng viên nhưng mà tốt.

- Ờ nhờ dì! - O Bảy nói, nửa đùa nửa thật. - Ông ta đang ở ngoài quán của dì đó! Mi ra coi thử một cái, có ưng thì ta hùn vô! - Dì Tâm Mượi nói, để tay lên vai o Bảy.

- Thôi dì để cho khi khác. O Bảy đỏ mặt ngập ngừng nói. - Con phải đến trụ sở. Sắp đến giờ. Lại có thợ …

 

Nơi xuất bản: NXB Văn học, 2005