Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Nguyễn Trọng Tân

NHÀ VĂN NGUYỄN TRỌNG TÂN

 

Tiểu sử:

Tên thật: Nguyễn Trọng Tân

Sinh năm: 1949

Nơi sinh: Lâm Thao- Phú Thọ  

Bút danh: Trọng Tân, bút danh báo chí: Nguyễn Lê My, Phù Việt Trang...  

Thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, ký  

Các tác phẩm:

·           Ngọn lửa Yên Ninh (1982)

·           Đò chiều   >> Chi tiết

·           Tiến sĩ vinh quy   >> Chi tiết

·           Trang gia phả viết bằng vôi   >> Chi tiết

·           Chuyện buồn thời con gái (1988)

·           Quyền lực xém (1989)

·           Thương nhau (1989)

·           Trang gia phả viết bằng vôi (1991)

·           Một thời để nhớ (1992)

·           Đò chiều (1996).

Giải thưởng văn chương:

·           3 lần được tặng giải A của Hội văn nghệ và Ban vận động Nếp sống văn hóa TP Hà Nội về truyện ngắn (các tác phẩm: Bà The, Tháng năm nghiệt ngã, Tiến sĩ vinh quy)

·            Giải thưởng loại B (không có A) của ủy ban toàn quốc Liên hiệp VHNT Việt Nam cho tập Đò chiều (1996).

Giới thiệu một tác phẩm:

Đò chiều

 

Nghề viết đưa tôi đi nhiều, gặp đủ hạng người. Song cái tạng tôi ngại tiếp xúc, lại lúc nào cũng thấy thảng thốt, như có lời giục giã đã từ đâu đó xa lắc: Hãy sống mau lên làm được gì có ích thì làm đi. Cuộc đời đáng yêu thật nhưng cũng chán ngắt. Cuộc đời có vinh nhục đủ cả nhưng không phải nơi ồn ã, trang trọng. ở đấy, cuộc đời trả giá, phù phiếm tới mức điệu nghệ. Phải chăng thế mà chuyến đi lặng lẽ về miệt rừng núi heo hút, cụ thể là cái trạm thuế con con bên ngã ba con đường Tây Bắc xuôi về làm tôi nhớ mãi.

Duyên do chuyến đi bởi ông Cao Nhơn, người phụ trách nghành thuế tỉnh X. tôi quen ông khi ông làm Chủ Tịch một huyện lớn. Từ ngày ông về Thuế, tự dưng tôi thấy ngại gặp. Có thể do nỗi mặc cảm về cái ghề "thuế má" với những tay thước mặt mày hung gở in sâu trong trí nhớ tôi qua phim ảnh, sách báo thời còn trẻ.

Dịp gặp nhau tại một lễ kỉ niệm; rượu vào, rượu lôi những điều ngại nói ra khỏi cổ, Cao Nhơn bảo tôi bằng cái giọng ngang ngang, ấm ức ra chiều:" Ông chẳng hiểu cóc khô gì cái nghề thu thuế của chúng tôi cả".

- Này, hôm nào về với tôi ít ngày. Tôi đưa ông đi săn. Săn ở rừng cấm hẳn hoi. May được con hoẵng con chim, nếu trắng tay anh em thuế sẽ đãi ông bữa chẽo sông Bứa. Chẽo nướng, chẽo ôm măng tôi tin ông khối tư liệu viết còn hay hơn, tai quái hơn cái Trang gia phả viết bằng vôi.

Tôi chột dạ. Ra cái ông thuế này chịu đọc hơn tôi tưởng. Truyện ngắn trang gia phả viết bằng vôi, in đã lâu trên một tờ báo nhỏ ở thủ đô. Nội dung chỉ là câu chuyện tôi chép từ cuốn gia phả họ được viết trước cách mạng. Truyện chẳng ra gì mà ông đọc, ông nhớ. Vậy là ông quý tôi. Còn tôi thì cứ giữ cái định kiến xưa nay cho rằng xưa nay niềm mê say duy nhất của mấy cán bộ thuế là tiền. Làm sao, bất luận thu được nhiều tiền. Lòng họ lạnh lùng chai sạn; Tôi đâm phân vân. Đôi mắt Cao Nhơn cười cười, tai quái. Giọng ông dịu bớt vẻ gây sự:

- Ngày học phổ thông tôi giỏi nhất môn văn học, nhưng số phận đẩy tôi đi làm tài chính. Tôi được đào tạo chính quy và cũng gắn bó với nghề. Sinh ư nghiệp mà, nhưng không bỏ được thú mê văn chương thế mới khổ.

- Sao lại khổ ; Tôi cảnh giác nhìn Cao Nhơn ; Văn ấy đâu phải là nghề. Văn ấy là Người. Nó là phần tâm hồn, hương nhụy của bông hoa. Ông làm tài chính mà giầu tâm hồn ấy là người sướng, người tốt.

Cao Nhơn cười cười giễu cợt:

- "Em" là người lòng thành thôi.

Tự nhiên tôi thấy phát cáu vì cái lối tưng hửng của ông. Tôi đay nghiến:

- Lòng thành là cái phù phiếm bậc nhất. Nó vô giai cấp. Chỉ có lòng thành thôi ông cóc làm lãnh đạo người khác được. Dân buôn lậu cúng thần linh làm cho cánh phòng thuế, công an, có mắt như mù, có tai như điếc, có mồm như câm. Đấy là lúc họ thể hiện lòng thành nhất còn gì.

Kha kha cười, cái cười như đám hạt ngô già nổ bung giữa cát bỏng, Cao Nhơn không giận:

- Nói chuyện với mấy ông văn nghệ kinh bỏ xừ. Nhưng tôi chịu được.

Tôi cũng dàn hòa:

-Văn chương là cái kính chiếu yêu. Nó chịu người có tâm, nỡm kẻ mượn nó để tiến thân. Ông có tâm thì sợ gì.

Tôi nhận lời đi săn cùng Cao Nhơn trong rừng cấm. Nói cho oai thế thôi, rừng cấm bây giờ sạch tinh tươm. Chẳng biết ông Nhơn chuẩn bị ngựa từ bao giờ, hai con ngựa đủ bộ lệ yên cương. Cái dáng ngồi ngựa của Cao Nhơn thật điệu đà, cái phất roi khiêu khích làm tôi phải khen thầm:" Cha này thật lắm tài". Tuổi Đinh Hợi lại có sao hỷ thần chiếu mệnh, nghe đâu ông là "tác giả" của bao chuyện hóm nghịch động trời. Dưới đây là một chuyện:

"Một lần Cao Nhơn đi viếng đền. Cổng đền tạc hình hai ông Thiện ?; ác. Đấy là những ông lính gác. Sứ mệnh các ông là làm vệ binh cho các đấng thần linh. Người đời không thờ cúng hai ông. Vậy mà chẳng hiểu sao dưới chân các ông lại có hai bát hương to tướng. Khói táp đen cả võ phục oai vệ. Lúc Cao Nhơn đến, thấy một nữ tu đang lúi húi. Cô gái còn quá trẻ. Gương mặt đẹp và buồn đến não lòng. Đôi môi hồng cắn chỉ, mòng mọng như chỉ trực òa ra nỗi ẩn ức đớn đau, khiến bộ quần áo nâu xồng cô đang mang chỉ làm tăng nỗi da riết với cuộc đời trần tục. Cao Nhơm sững lại. Cái máu nghịch ngợm trong người kéo ông tới bên cô bé. Đợi cô cắm hương xong, ông chắp tay khấn mà như hát:" Con lạy hai ông. Hai ông sinh ra để gác cổng đền. Cần chi đến sự thờ phụng của người đời. Vậy mà ai lại vẽ chuyện thế này. Quanh năm suốt tháng hương lửa cháy đùng đùng con hỏi thật, hai ông có thấy nóng rát ở chỗ ấy?; không". Miệng nói nhưng bao nhiêu "lòng thành" từ đôi mắt hấp háy nơi ông nghiêng ngả sang bộ nâu xồng. Nữ tu quá sức e thẹn, bối rối liếc xéo cái ông đệ tử tai quái. Gương mặt đẹp mê hồn như có lửa cháy. Cô ngoăn ngoắt bỏ đi như hờn như rỗi. Chút vốn liếng tu hành rõ ra chưa được mấy nả có cơ bong mất.

Lúc hai con ngựa sóng đôi, tôi hỏi lại Cao Nhơn. Ông cười kha kha bảo:

- Có chuyện đó thật. Nhưng dạo ấy tôi còn trẻ mà. Với lại cũng tại cô bé ấy xinh tệ. Người quá xinh đẹp không thể tu thành chính quả được. Họ đi náu đời, nhưng đời nào tha họ. Cửa phật là nơi thanh tịnh cạn kiệt mầu mỡ, mà cô bé thì như tinh túy của trời đất. Bước chân vào đó cô ấy sẽ chết ?; Cao Nhơn nói như hụt hơi ?; Đùa vậy mà không hiểu sao đêm về tôi cứ thấy đau. Nỗi đau buồn vô cớ. Cho mãi đến sau này, gương mặt người nữ tu, dáng vẻ lầm lụi với một bể tâm sự và cam chịu trong cái tấm thân mảnh mai ấy cứ trở về mỗi khi tôi đơn côi.

Tôi chợt phát hiện ở Cao Nhơn nỗi đa cảm và cô đơn khủng khiếp. Cái dáng ngồi tưạ thanh thoát như đã biến đâu. Tấm lưng cong xuống nặng nề, tia mắt vút xa nơi vỉa núi đang sẫm dần lúc chiều buông.

- Sau đó tôi nghe nói, ông có đi tìm nữ tu?

- Có, tôi có nghe ngươi ta bảo cô bé sang đò ở gần bến Gành. Ngày rằm mồng một cô ấy vẫn qua lại các chùa trong vùng, nhưng sau hôm ấy không thấy trở sang nữa. Các cụ bảo:" Trai yêu bằng mắt" có lẽ thật. Chỉ nhìn thấy cô bé lần ấy mà tôi nhớ mãi. Nhớ đến nỗi sau này gặp ai có nét hao hao giống cô bé là tôi cảm tình ngay. Với tôi sắc đẹp phải là như thế, phải có hồn vía của bùn đất, của mưa nắng. Sau đó tôi có qua lại hàng chục ngôi chùa trong vùng nhưng đều vô ích. Cô bé như là một đốm sáng kì lạ đậu vào đời tôi trong chốc lát rồi biến đi. Chỉ thế thôi mà tôi cứ khắc khoải, cứ nhớ thương, cứ tôn thờ suốt cuộc đời. Nhiều lúc tôi giật mình tự hỏi không biết chuyện nữ tu là mơ hay thật. Tôi đã cố họa lại gương mặt đó, tôi chưa vẽ bao giờ cả vậy mà tôi đã thể hiện được sắc diện của "nàng" trên mặt giấy. Nàng như một sự ban tặng, lại như một đòn trừng phạt tôi trong cuộc đời.

Chuyến đi săn quả thật trắng tay. Hình như anh em trạm thuế cũng biết thế. Họ đã chuẫn bị sẵn cơm. Có thịt chẽo thật. Chẽo rán vàng ươm. Món măng tre trắng phau ngâm với ớt chỉ thiên. Những trái ớt bé tý, nhọn hoắt chỉ nhìn thôi đã thấy cay xé lưỡi. Đêm ấy trong cái trạm thuế chon von giống như một nếp nhà nghèo bị bỏ quên nơi cửa rừng, tôi trằn trọc không ngủ nổi. Giường bên, Cao Nhơn vẫn nằm ngay ngắn như vô lo, mà quá nửa đêm ông nói tỉnh queo:" Từ dạo về thành phố ít được ngủ rừng. Cứ ngủ rừng tôi lại nhớ, lại đau"

Giát giường cọt kẹt. Tôi nhìn sang thấy ông đang lụi cụi trở dậy. Ông vừa mặc áo vừa nói:

- Dậy uống trà vậy. Ngồi bên cửa sổ nhìn sông Bứa về đêm đẹp ra phết.

Hai cánh cửa gỗ mở ra. Tiếng con sông nhánh vào loại cổ nhất vùng Tây Bắc cất lên dào dạt. Ban ngày nhìn dòng sông bé bỏng, tù túng. Lúc này nó lại có vẻ huyền bí, mơ màng. Cao Nhơn ngồi im như pho tượng. Điếu thuốc chợt lụi, chợt hồng làm gương mặt ông gãy gọn như những nét khắc. Bỗng Cao Nhơn hỏi mà cũng ra như không hỏi tôi.

- Ông có thể không! Nhiều lúc tôi có cảm giác rất lạ về thời gian tồn tại của đời người. Nó giống như con sâu đo ấy. Nếu cứ để ý nhìn nó bò thì sốt ruột lắm, ấy vậy mà chỉ nhãng đi một chốc, một chốc thôi, ngoảnh lại mới thấy kinh ngạc bởi sự hiện diện của kiếp người trước cái vô cùng vô tận của trời đất.

Tôi khẽ rùng mình vì âm sắc chìm đắm, nỗi cô đơn, yếu ớt trong lời ông. Và tôi cũng chợt hiểu ra rằng, ai yêu ông chắc cũng nhận ra phần trong trẻo, thơ ngây nơi ông bị khuất lấp sau không ít đớn đau, bụi bậm và cả sự hơ hớ vô hồn của cuộc đời.

 

 

 

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn