Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Nguyễn Quốc Trung

NHÀ VĂN NGUYỄN QUỐC TRUNG

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Nguyễn Quốc Trung.

Sinh năm: 1956

Nơi sinh: Hương Sơn, Hà Tĩnh.

Bút danh: Nguyễn Quốc Trung, Nguyễn Tình Nguyện, Nguyễn Anh Đường.

Thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, ký.

Các tác phẩm:

  •     Biên giới (1982)

  •     Bên rừng thốt nốt (1984)

  •     Thời chúng mình yêu nhau (1989)

  •     Người đàn bà khóc mướn (1990)

  •     Tháng chạp của đời người     >> Chi tiết

  •     Đứa con người lái đò (1992)

  •     Người đàn bà hồn nhiên (1996)

  •     Đêm trừ tịch (1998)

  •     Cú điện thoại lúc quá nửa đêm     >> Chi tiết

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Bên cầu Mỹ Thuận

- Anh Năm, cảm ơn lòng tốt của anh, chớ đời em vậy, làm sao mà lấy chồng được nữa.

- Cô Hai à, đời tui cũng có hơn gì cô đâu. Tụi mình đều xuất thân là dân bán hàng rong, làm cò cho xe, trên Bắc Mỹ Thuận cả mà. Nếu cô đồng ý, tụi mình sẽ làm đám cưới lẹ lẹ.

Hai Tú bật cười, cái nhà anh này tuy đã bỏ nghề bắt khách cho các xe qua bắc Mỹ Thuận, nhưng tính quen nài ép người ta vẫn chưa bỏ nổi. Mà đây là chuyện vợ chồng, hệ trọng cả đừoi người chứ đâu phải như đi một đoạn đường, ngồi một chuyến xe, giỡn sao được?

- Anh Năm à, chuyện này để em suy nghĩ đã. Anh coi, đời em cũng trải cực khổ trăm bề. Thời con gái suốt ngày chen lấn trên bắc để kiếm cái ăn, cái mặc, khi cầu Mỹ Thuận bắc xong, người ta rút phà, em lâm vô cảnh ăn không ngồi rồi, và dần dần hết cả tiền dành dụm. Em đâm ra chán nản, có lúc đã mướn rượu giải sầu. May sao em gặp được má Bảy giúp. Má cho em mướn mặt bằng trước nhà để bán mấy thứ hàng linh tinh. Nhờ cái quán chạp phố ấy mà em có đồng ra đồng vào để sống. Anh cũng là người từng làm ăn trên đất bắc Mỹ Thuận, khi không còn phà cũng lâm vào cảnh không có việc làm, chắc dễ thông cảm cho. Nhưng anh à, đàn bà cực hơn mấy anh nhiều.

Năm Tỵ thấy thương Tú, trước mắt anh hiện lên dáng những người đàn bà, những cô gái da bắt nắng đen cháy, cánh tay gầy nám bụi, chen lấn, lách lỏi giữa những xe, những người, nồng nặc hơi xăng, và con phà, dân vùng này gọi là bắc, sùng sục nước đan qua đan lại trên dòng sông ngầu đục phù sa, để bán hàng. Trên mỗi chuyến phà như thế có hàng trăm người kiếm sống bằng nhiều cách không thể gọi là nghề được. Từ khi có phà là có lới người hành nghề này. Họ đã biến lòng phà thành cái chợ nổi trên sông. Và mình nữa, mình cũng bám vào bến phà mà sống, có điều mình làm cái nghề bắt khách cho các chuyến xe đò, xe du lịch để hưởng tiền hoa hồng, những người thiếu thiện chí gọi là tiền cò. Sống trên phà, giữa chốn đô hội con người không còn giữ được nhân cách, làm sao kiếm được nhiều tiền là khoái nhất. Nhiều người luôn nài ép, giở mọi chiêu đoạn buộc khách phải mua hàng. Khi có tiền, đàn ông lao vào rượu chè, cờ bạc, đàn bà cũng đánh bài, chơi số đề, nghĩa là thử vận may bằng chuyện đỏ đen. Rồi sinh ra tính bợm bãi, được chăng hay chớ, người ta đâu cần đến chuyện giữ nhân cách. Mà cũng khó giữ khi cái ăn hàng ngày còn phải giành giật. Thành ra người nào cũng tỏ ra hung dữ, bất cần. Người ta đinh ninh sẽ sống trọn đời nhờ vào cái bến phà này, mỗi chuyến phà qua lại là mình còn gặt hái ra tiền, khách qua phà ai chẳng muốn ít trái cây, cặp bánh ngọt đem về làm quà, người trùm sò cũng phải dùng bọc nước đá cho đỡ rát cổ, chí ít cũng mua que kem mút cho khỏi nóng ruột chờ phà cập bến, mà phà qua lại ngày đêm, ngày này đến tháng khác, chẳng bao giờ ngưng nghỉ. Còn người là còn phải đi làm ăn, buôn bán. Phải đi trên đường, phải qua phà. Người của chín tỉnh đi lên, khách của các nơi trở xuống, tính sao nổi. Vậy nên khi thấy những đoàn công nhân khuân máy móc đến đo đạc, họ nghĩ chắc vẫn còn lâu mới khởi công xây cầu. Mặt sông thì rộng, bắc cầu bao giờ cho xong. Đến lúc người ta trổ lên trời những giàn giáo và những cỗ máy khoan xuống lòng sông hàng trăm thước khiến mặt nước ngầu đục thêm, họ vẫn nghĩ, chắc phải hàng chục năm sau mới xong. Nghĩa là đời mình còn….

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 2002