Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Nguyễn Huy Tưởng

NHÀ VĂN NGUYỄN HUY TƯỞNG

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Nguyễn Huy Tưởng.

Sinh năm: 1912

Mất năm: 1960

Nơi sinh: Từ Sơn - Bắc Ninh, nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội.

Bút danh: Nguyễn Huy Tưởng.

Thể loại: tiểu thuyết, kịch, ký, truyện ngắn.

Các tác phẩm:

·           Đêm hội Long Trì (1942)

·           Vũ Như Tô (1943)

·           Cột đồng Mã Viện (1944)

·           An Tư công chúa (1944)

·           Bắc Sơn (1946)

·           Những người ở lại (1948)

·           Ký sự Cao - Lạng (1951)

·           Bốn năm sau (1959)

·           Sống mãi với thủ đô (1961)   >> Chi tiết

·           Lá cờ thêu sáu chữ vàng   >> Chi tiết

·           Kể chuyện Quang Trung

·           Luỹ hoa   >> Chi tiết 

Giải thưởng văn chương:

·           Giải thưởng văn nghệ 1951-52 cho tác phẩm “Ký sự Cao lạng”.

·           Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật năm 1996.

Giới thiệu một tác phẩm:

Đêm hội Long Trì

 

Khi bọn Bảo Kim tới Bắc Cung thì hội mới bắt đầu khai mạc. Với chúa Tĩnh Đô, hội Trung thu lại càng náo nhiệt, và năm nay hội tưng bừng hơn cả mọi năm.

Được vào đây, chỉ những người trong hoàng gia, những người ngoài phủ chúa, những quan to, những mệnh phụ, những tiểu thư và cả  những thư sinh cũng được vào. Muốn thưởng công những chiến sĩ đã chiến thắng quân Nguyễn ở Phú Xuân, chúa đặc biệt cho cả những quan võ được dự vào cuộc vui rất trọng thể này.

Hồ Long Trì đã thành một nơi bồng lai mộng ảo, cách biệt với phàm trần. Hồ rộng hơn nửa dặm, thả rất nhiều sen ấu. Bên hồ, có đắp những ngọn giả sơn rất to bằng đất hoặc bằng đá. Trong hang, trong hốc, hoặc trên đỉnh, hoặc dưới chân, hoặc trước hoặc sau,ẩn ẩn, hiện hiện, có những chàng Tương như, hay những gã Tiêu lang ngồi hoà nhạc,ăn mặc ra vẻ tiên phong đạo cốt. Núi vọng ra những tiếng bổng tiếng chìm, tiếng ti, tiếng trúc, nghe lả lướt du dương. Bờ hồ, trên cành hàng mấy trăm gốc phù dung, dương liễu có treo muôn thứ đèn lồng bằng gấm vóc. Những đèn ấy đều do chúa Tĩnh Đô sai cung nữ chế ra, tinh khéo tuyệt vời, mỗi chiếc đáng giá mấy lạng bạc. Xa trông như muôn vàn sao  lốm đốm sáng.

Và bàng bạc khắp nơi, tô điểm thêm lên là ánh trăng rầm. Trăng không trong, hơi đục, nên cảnh sắc càng thêm mông lung phiếu diễu. Đường đi, bóng cây in xuống, khi xoá khi hằn, theo với gió thu. Trời chưa mát, nhưng cũng không nực lắm. Hai bên đường, hoặc dựa vào chân núi, hoặc nối liền hai ngọn núi, hoặc dựng trên sườn, hoặc dựng biệt lập một nơi, có những cửa hàng bán khắp đồ tạp hoá phương Nam, phương Bắc, cho chí thịt, quả, rượu, nem không  gì là không có. Những quan nội thị đều chít khăn vuông, ăn mặc như đàn bà. Họ giữ việc bán hàng.

Nhưng họ có bán đâu? Bọn cung nữ đi đi lại lại trọng chợ, tha hồ mà cướp mà mua, không hỏi giá cả gì. Họ tranh nhau lấy những tiếng hàng rau, hàng cá mà nói chua nói chát lẫn nhau. Những mệnh phụ, những tiểu thư cũng bỏ thói đài các, ăn mặc trá hình, người quen không nhận ra nhau đựơc, đi lẫn lộn với bọn trên, hoặc mua hoặc bán, lời ăn tiếng nói cũng rất là phóng túng.

Theo ý chúa, trong đêm duy nhất này, người ta sẽ sống thực tự do, nô đùa thực suồng sã, không biết tôn ty trật tự là gì nữa. Và sau cuộc vui hỗn hợp này ai lại trở về bổn phận nấy, có chăng nữa chỉ còn giữ chút hương vị cuộc vui như một giấc mộng vàng.

 

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1994