Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Nguyễn Danh Lam

 

NHÀ VĂN NGUYỄN DANH LAM

 

Tiểu sử:

Tên thật: Nguyễn Danh Lam

Năm sinh: 1972

Nơi sinh: Bắc Ninh

Thể loại: Thơ, tiểu thuyết

 

Các tác phẩm:

Tìm (1998)

Bến vô thường (2004)

Giữa vòng vây trần gian (2005)

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

 

BẾN VÔ THƯỜNG

 

Một hình dong vô định, ngược với chiều hướng bắc, hắn trôi. Ký ức như những ụ mối trên đường, vô tình đá phải, vài mảnh lật lên. Có thể là một gương mặt một sự kiện, nhão nhoét, chảy sệt như những hồn ma được tạo bởi chất keo cứ thế dính nhằng nhằng vào tâm trí hắn. Những mốc thời gian lộn xộn, chắp vá. Có lúc hắn chỉ là một thằng oắt con, thoắt đã lại lớn kềnh, bước đi xiêu vẹo trong đường xóm đầy hoảng loạn vào cái đêm chạy trốn cùng người cha vô vọng... dù là gương mặt nào, khoảnh khắc nào, tất cả chúng đã bị chôn vùi theo mọi nghĩa ở cái chân trời xa lăng lắc ấy...

Bố mẹ giao hẳn công việc ngồi canh chừng những luống rau mỗi khi ông bà đi làm vắng. Hắn ngồi bên bậc cửa gỗ đã lên nước bóng láng, mòn vẹt.

Căn nhà do ông nội hắn làm lúc còn sống, mái lợp rơm. Rui mè, kèo cột mọt đục lỗ chỗ. Vách trét bùn ao trộn lẫn rơm rạ. Mưa xối mãi, thủng chỗ nào thì trám chỗ đó. Tường nhà vì thế cứ từ từ được thay mới.

Con ngõ nhỏ viền bởi những hàng râm bụt, cúc tần quanh năm xanh um. Râm bụt hầu như nở suốt bốn mùa, hoa đỏ chói. Cúc tần lá có mùi đăng đắng, ngai ngái, người ta dùng để tắm ghẻ. Vườn nhà hắn cũng rào râm bụt, cúc tần, phần trên lá dày nhưng phía dưới đầy lỗ hổng, đấy là nơi đàn gà nhà hàng xóm có thể đột nhập vào vườn bất cứ lúc nào. Những ngày ấy hắn đâu chừng sáu bảy tuổi,  ngoài nhiệm vụ kiếm củi, câu cá rửa bát sau bữa ăn, hắn phải gác gà.

Cha hắn làm nghề "đi củi" trên rừng. Rừng cách nhà gần trăm cây trên mạn ngược. Ông xách dao theo đoàn tàu chợ ì ạch trườn lên phía bắc. Khi đi bao giờ cũng ôm theo cái lá khoa,  trong bọc mấy cục cơm nắm, có khi là vài củ khoai lang luộc, một bi đông nước chè xanh, chiếc điếu cày, bụm thuốc, bao diêm... Ông đi đôi ba hôm mới trở về.

Đoàn tàu kéo còi hào hển. Trong toa, trên nóc, hai bên thành lèn chặt, đong đưa những thân thể thối ủm mùi mồ hôi, mùi nước đái khô. Cửa sổ tàu chất trắng những bó củi chờ được đẩy xuống. Cách ga chừng gần cây sô, những bó củi được lao ra khỏi cửa sổ tàu ầm ầm như thác. Mỗi chủ củi có một cách đánh dấu "tài sản" của mình theo qui ước riêng. Củi nhà ai người nhà nấy ra đón về, chẳng mấy khi lẫn, họa có lẫn thì cứ việc lao vào nhau, đá đường tàu có sẵn cứ tha hồ phang. . .

          Lần nọ ra đường tàu đón củi cho bố, hắn được chứng kiến một sự việc kinh hoàng. Có gã hành khách đi tàu ngồi lẫn trên mớ củi trong toa. Không hề biết là đến gần ga những bó củi sẽ được xô xuống, mệt thế nào, gã điềm nhiên tựa đầu ngủ khò lẫn lộn trong đống củi. Tàu vừa uể oải thúc còi, dòng thác củi lập tức tuôn ra. Từ dưới đất nhìn lên, hắn thấy rất rõ gã hành khách như một đụn thịt bay chới với cùng mớ củi trên không rồi cắm mặt xuống đám đá xanh trải dưới nền đường. Những đống củi trên mấy chục toa tàu vẫn điềm nhiên trút xuống, cứ nhè ngay chỗ gã mà rơi. Khi đoàn tàu qua người ta túa lại. Cái áo màu xanh cứt ngựa trên mình gã bục toang ra từng mảnh, rối nhùi trong mớ máu thịt toác hoác, nát nhừ. Một con mắt gã lọt ra ngoài hốc sọ, dính lều bều trên má, đề lại một cái lỗ lầy hầy đỏ sệt... Hắn phun ra một bụm nước dãi tanh ngòm khi nhìn thấy cái xác. Một trong hàng trăm cái lỗ trên vũng cơ thể khốn khổ kia, biết đâu lại do chính bó củi của cha hắn xô xuống, dùi vào

Nhà hắn trồng rau, được hai luống to hơn cái giường đôi một tí. Ấy thế mà thu hoạch hầu như quanh năm, vừa ăn vừa bán. Cứ cắt hết lượt rau, chỗ gốc vừa cắt lại trổ lên xanh um. Cắt vài lượt thì cuốc lên, băm vụn đất gieo hạt loại rau mới.

Một luống rau nhà hắn vừa gieo xong, mầm đã hé lên xanh lăn tăn trên những hạt đất nâu đen có trộn lẫn phân bắc. Đúng lúc ấy thì đàn gà nhà hàng xóm nở lứa mới,  gần chục con cứ suốt ngày lục cục lích tích bủa vây, hở một cái là chui rào vào bới tan cả luống rau. Rau cỏ là nguồn thực phẩm chính của gia đình hắn. Họa lắm hắn mới lần ra mấy ao bèo quanh xóm thả câu, giật thì thụt được hơn chục con xít cờ, loài cá bé bằng đầu đũa cả,  vẩy cứng như móng tay. Mẹ hắn đem áp chảo, con nào con nấy cháy cong lên, chát xít, thế mà lùa cơm cũng lạ miệng hết veo. Chỉ tưởng tượng đến mấy con cá, nước bọt trong mồm hắn lại sôi lên lúng búng.

Thuở bé hắn có tật hay tiết nước bọt, mồm lúc nào cũng thấy mằn mặn tanh tanh. Có thể hắn đã hoài thai bằng những giọt mồ hôi của cha mẹ hắn trong một đêm oi nồng nào đó. Sinh ra từ mồ hôi chua loét bởi thế trong mồm hắn lúc nào nước bọt cũng có thừa. Cứ đi vài mươi bước hắn lại phun ọc một búng vào cái bóng của mình. Nước uống vào thay vì đái ra thì hắn phun theo đường nước bọt.

          Gà mẹ cục cục dẫn theo sau lũ gà con, cái âm thanh ấy cứ hết sán lại gần lại tản ra xa. Mỗi lần chúng ngấp nghé xâm phạm hàng rào hắn lại cầm cây roi vút xuống đất đánh đét một cái, miệng xùy xùy. Lũ gà lốc tộc chạy, lúc sau lại mò tới. Cứ thế cả buổi sáng đơn điệu. Hắn chẳng có trò gì chơi bèn lấy một cái vỏ hến khoét xuống đất, chỗ ngay bậu cửa thành một cái ao rồi nhổ nước bọt vào đấy. Thoắt cái, cái ao đầy, hắn cũng lơ mơ ngủ gật, đầu gục xuống, mất thăng bằng ngã chúi ngay vào cái ao vừa khoét. Choẹt, hắn bừng tỉnh, đưa cườm tay quệt mặt, khắm lặm, thối quá! Hắn dụi mắt chạy ra giếng nước.

Giếng khơi, quanh vùng nhiều ao hồ nên nước đầy ăm ắp. Trước kia hắn cũng có một đứa em gái. Được bốn tuổi thì nó ngã xuống cái giếng này chết sặc. Mẹ hắn khóc ngất đòi lấp giếng. Bố hắn nghĩ lại, giếng kè hết bao nhiêu gạch, bỏ cũng phí, con thì cũng đã chết rồi. Thôi xây cho thành giếng cao thêm rồi dùng tiếp. Nước giếng trong leo lẻo, mùa hè mát, mùa đông ấm. Đôi khi soi mặt mình xuống giếng hắn lại thấy mặt đứa em, mái tóc úp ngang bầu má tròn căng, hai mắt đen láy. Em hắn chết, mẹ hắn không thể đẻ thêm được nữa. Hắn thành con một nhưng bố hắn vẫn thường xuyên rủa hắn là đồ của nợ, đồ chết băm chết vằm! Mẹ hắn bảo, sao ông ác thế, bố hắn lừ mắt, mẹ hắn dành im.