Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Mường Mán

NHÀ VĂN MƯỜNG MÁN

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Văn Quảng

Sinh năm: 1947

Nơi sinh: Phú Vang - Thừa Thiên Huế

Bút danh: Mường Mán

Thể loại: tiểu thuyết, truyện, thơ

Các tác phẩm:

  •     Lá tương tư (1974)  >> Chi tiết

  •     Một chút mưa thơm (1974)   >> Chi tiết

  •     Hồng Hạ (1989)

  •     Mưa bụi    >> Chi tiết

  •     Phố hoa phai     >> Chi tiết

  •     Xóm người mù     >> Chi tiết

  •     Kiều Dũng (1989)

  •     Ngon hơn trái cấm (1989)

  •     Bâng khuâng như bướm (1989)

  •     Người đàn ông tội nghiệp của tôi (1990)

  •     Mùa thu tóc rối (1990)

  •     Bèo nước long đong (1995)

  •     Khóc nữa đi sớm mai    >> Chi tiết

  •     Vọng (1995)

  •     Thương nhớ người dưng     >> Chi tiết

  •     Ngon hơn trái cấm (1989)

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Những mùa trăng ca múa

Cái mũ cối: lớp vải bọc ngoài cũ bạc loang lổ những mảng vàng ố. Cái mũ cối: lớp vải ka ki thấm mồ hôi ngày nắng gắt nào xa xôi, thấm mưa sương đêm nào cũng đã quá xa xôi, biệt tích. Làm sao tôi có thể phân biệt được màu nắng màu mưa màu bùn màu đất khi cái mũ đã bị luộc chín bởi lửa thời gian, bị vây ngợp giữa điệp trùng cái nhìn về quá khứ. Nhìn về quá khứ, những khoé nhìn buồn, khoé nhìn chất ngất, khoé nhìn bâng khuâng nhung nhớ.

Tôi nhìn về quá khứ qua cái mũ cối hư cũ này, qua vóc dáng méo mó của nó tôi vẫn có được tia nhìn tròn đầy. Cái mũ cối có thể bóp nhẹ đã dẹp, ném mạnh đã hư. Cái mũ cối già cỗi sau bao lần luân lạc tôi vẫn giữ, nâng niu trang trọng như một bảo vật- vì nó là kỷ niệm, vì qua nó tôi nhìn thấy lại cả một đoạn đời, tôi nhìn thấy lại chuỗi ngày tháng nồng khói hương đã mịt mùng xa khuất, nhất là qua nó tôi nhìn thấy hình ảnh một người khắc đậm lên tâm tưởng O tôi, o Dương.

Thí dụ ký ức tôi là chiếc tủ có bốn ngăn thì o Dương chiếm hết ba ngăn, ngăn còn lại chứa đựng các thứ lặt vặt. Hình bóng o trùm lấp hết các hình bóng khác mỗi lúc tôi ngoái cổ về.

Cái mũ cối, o Dương, ấu thời tôi gắn liền nhau mật thiết tưởng chẳng phút nào rời nhưng nay tôi còn giữ được cái mũ cối, o Dương và tuổi ấu thơ tôi vuột mất rồi. Không biết o Dương bây giờ thế nào – nhưng o Dương trong ấu thời tôi thật đẹp thật hiền dịu. O Dương, hai tiếng thân yêu ngọt ngào ấy lâu rồi tôi không được thốt ra miệng với bàn tay đưa lên làm một cử chỉ chào mừng. O Dương đã chết? O Dương còn sống? - Không biết. O đã như cánh chim bay vút qua đời tôi mất bóng.

O Dương 19 tuổi, tóc kẹp, áo nâu vỗ tay giữa bầy trẻ ngây thơ và hát. O Dương hát hay lắm. Lúc hát o ngửa mặt lên trời, nhìn vầng trăng sáng (có lúc tôi sợ trán o sẽ chạm tới vầng trăng). Vầng trán phảng gió phất phơ vài cụm tóc ngỗ ngược bay loạn xạ che cả mắt o, hai tay o bận vỗ nên chẳng thèm đưa lên vén tóc. Biết bao lần tôi say mê chiêm ngưỡng o trong dáng vóc ấy. Thủa đó tôi thích nhất nhìn o dưới trăng tạp hát mà không hiểu vì sao, nay hồi tưởng mới biết những đêm đó o tuyệt đẹp, tuyệt duyên dáng.O vỗ tay, o hát: giọng o thật tốt, thật trong. O hát hay nhất các bạn đồng lứa, o có thể hát dở hơn họ, nhưng đối với tôi, cho tới bây giờ o vẫn là người hát hay nhất thế giới. Tôi hát theo o, tôi vỗ tay theo o. Tiếng hát thời xa xưa ấy lúc này dường nghe thấy vang vọng bên tai như nó từng vang vọng qua suốt những mùa trăng! Thơ ấu… Đây gió, đây trong rừng, đây cánh đồng bao phóng khoáng, này cô em muôn vàn thương yêu cô sầu nhớ chi trong lòng? Tay ngắt bông hoa hồng cây với cành cùng đua thắm, ô kìa nhìn chim non đan vàng hoa tươi trên cành líu lo muôn đời… Tiếng hát không cánh mà vẫn bay, vẫn phiêu bồng lên tầng mây cao nhất, chạm tới những ngôi sao đẹp nhất xa nhất. Những ngôi sao xa run lạnh tái tê không ai nhìn thấy, tôi không nhìn thấy, tôi chỉ thấy lòng mình sáng rạng bởi hai ngôi sao gần: đôi mắt sinh ra để gửi vào đời khoé nhìn điềm đạm, mắt o Dương. O hát và o nhảy, điệu nhảy mộc mạc o tập cho cả bọn tới ba, bốn lần mới quen chân. Điệu nhảy múa vung hai tay, tiến chân tới, đá chân lên, khẽ lùi chân lại dễ dàng hết sức, tôi vẫn cố tình vờ trật nhịp giải vụng về để o Dương sửa sai, để nghe cái giọng êm như ru o nạt nộ: dễ ợt mà nhảy sai hoài à!". Tôi nhảy sai hoài để nghe o nạt nộ, sự cố tình và trẻ con vừa nghịch ngợm vừa thích thú biết bao.

Sân nhà ông nội lót gạch bát tràng rộng mông bốn bể bít bùng cây cối. Ông nội tôi thường bắc ghế ra hiên, dưới thềm trăng uống trà vuốt râu nhìn lũ cháu con ca múa. Ông nội chịu chơi rất mực, bọn trẻ đôi khi cao hứng hò hét ỏm tỏi ông chẳng la rầy, còn cổ vũ thêm:

- Hát to lên tụi bây, hát cho tụi Tây trên đồn Tây Thượng nó nghe nó ngủ nghê không được.

Đồn Tây Thượng cách làng bảy, tám cây số. Mỗi lần tôi khóc nũng nịu mẹ tôi doạ đem bán cho Tây. Tây, danh từ mới lạ đọc lên không rọi trong tôi hình dung nào rõ nét, nhưng theo sự mô tả của mẹ tôi thì những thằng Tây là những người ngợm với sự cấu tạo hình thể khá ly kỳ: mũi lõ dài thoòng, mắt xanh lè tựa mắt mèo, tóc vàng xoắn như lò xo, có đứa da trắng, có đứa đen thui… Thằng Tây thế đó, cộng thêm tưởng tượng tôi lại càng ghê khiếp hơn nữa, do đó mỗi lần nghe mẹ doạ đem bán cho Tây dầu có muốn làm nũng tới chiều, tôi cũng cố nín khe không trở chứng nữa.

O Dương không bao giờ doạ đem tôi bán cho Tây, o dịu dàng dỗ dành, o ăn cắp mứt gừng của ông nội cho tôi. Ngoài hai buổi tới trường, suốt ngày tôi quấn quýt bên o, đêm o ấp tôi ngủ, cánh tay o mềm mại kê dưới đầu tôi và hơi thở o phà lên má là điệu ru không lời, là nhịp võng đong đưa đã cho tôi những giấc ngủ hồng. Tôi còn nhớ rõ mùi dầu dừa o xức tóc, còn nhớ chiếc nốt ruồi xinh xinh dưới cằm o tôi thường đưa tay rờ rậm. Thường bữa, o gánh hàng theo mẹ tôi ra chợ. Chợ chỉ họp buổi sáng nên o rảnh bủôi chiều. Chiều, o tập họp bọn nhỏ lại tập hát. Nhiều hôm o đi đâu đó mất tiêu, tôi tò mò hỏi mẹ, mẹ bảo: O lên phố mua hàng, nhưng khoảng sẩm tối o trở về với hai tay không, tôi biết mẹ tôi nói dối. Một lần, vừa thấy o xách nón ra đi tôi khóc lóc chéo véo đòi theo, o dỗ dành hoài không nín đành ngã lòng. O dẫn tôi băng qua con đê ngăn nước mặt ra sau ngôi miếu cổ trơ vơ giữa đồng trống. Ở đó có cỡ mươi mười lăm người đang đợi o, trong đám đông tôi thấy có cả cậu Phong, ông cậu em mẹ tôi nổi tiếng học giỏi và nghiêm nghị nhất họ ngoại. Tôi lẽo đẽo cầm chiếc áo o Dương đi trở tới, thoáng thấy cậu Phong tôi đã có ý muốn bỏ chạy vì tôi vốn sợ cậu. Tôi giấu mặt sau vạt áo o Dương bối rối, o Dương hiểu ý cúi xuống nói:

- O nói đừng đi, cứ đòi theo cho được, cậu Phong thấy, cậu cho ăn roi liền.

Đang sợ lại nghe o Dương doạ, không chần chừ gì nữa, tôi quay đầu nhắm con đê chạy miết về nhà. Về tới cổng tôi thoẻ hào hển kể với mẹ chuyện gặp cậu Phong và bọn người lạ mặt sau miếu. Mẹ tôi suýt bảo im lặng. Tôi thắc mắc hỏi tíu tít, mẹ đưa một ngón tay ngang cổ nhỏ nhẹ:

- Chuyện người lớn mi đừng tò mò có ngày đứt đầu! Cứ đòi theo o Dương hoài, quên trận đòn bữa rằm của cậu Phong rồi à?

Tôi nín khe nghe mẹ tôi và vẫn không hiểu tại sao sẽ bị đứt đầu nếu theo o Dương ra gặp bọn người lạ mặt sau miếu?

Tôi thương mến o Dương bao nhiêu …

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học, 2002