Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Lê Tri Kỷ

NHÀ VĂN LÊ TRI KỶ

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Nguyễn Duy Hinh,

Sinh năm: 1924

Mất năm:  1993

Nơi sinh: Triệu Phong - Quảng Trị.

Bút danh: Lê Tri Kỷ

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, kịch

Các tác phẩm:

  •     Cây đa xanh (1961)

  •     Phố vắng (1965)

  •     Một người không nổi tiếng (1970)

  •     Đất lạ (1971)

  •     Biển động ngày hè (1976)

  •     Những tiếng nói thầm (1978)

  •     Thung lũng không tên (1971)

  •     Sống chìm (1984)

  •     Câu lạc bộ chính khách (1986-2 tập)

  •     Không thiện không ác (1988)

  •     Cuộc tình thế kỷ (1992, tái bản 1994)

  •     Truyện ngắn Lê Tri Kỷ (1995)

Giải thưởng văn chương:

  •     Cuộc tình thế kỷ (tập truyện) giải A của Hội đồng văn học về chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang Hội Nhà văn 1994

  •     Không thiện không ác (tập truyện) giải A của Bộ Nôi vụ và Hội Nhà văn Việt Nam 1995.

Giới thiệu một tác phẩm:

Một người không nổi tiếng

Nguyễn Văn Ba không phải là tên khai sinh của anh. Tên thật của anh là Hùng Sơn. Xưa kia,ông cụ thân sinh ra anh thấy đứa con cả của mụ Tài Lợi, tên là Hùng Sơn, mỗi lần dắt xe Lămbretta ra vào, phải vướng cái hàng nước của cụ đặt trước cổng nhà hắn thì hoạnh hoẹ, lên sẵn cái láu cá của người dân nghèo thành thị, lúc sinh ra anh, cụ bèn đặt cho cái tên Hùng Sơn để có thế mà chửi bóng gió mẹ con mụ Tài Lợi cho thoả miệng. Lớn lên, vào làm công an được mấy năm, chiến sỹ công an sắc bén phải là người đi giữa cuộc đời, âm thầm như một cái bóng, không được làm cho ai thức tỉnh chú ý đến mình vì con người, vẻ mặt đã đành mà cả vì cái tên nữa.

Tên của anh thì như vậy. Còn con người của anh thì thật là khó nói. Hai mươi năm làm trinh sát đã biến cậu học sinh Hà Nội thành một người khác hẳn. Đôi vai rộng nhưng nhờ thân hình cao nên trông vẫn không có dị hình dễ nhận. Tay chân gân guốc vì trăm công nghìn việc trong kháng chiến, nhưng cử chỉ thì vẫn giữ nguyên vẻ nhanh nhẹn và lịch sự của người dân Thủ đô. Với dáng dấp ấy, khi mặc bộ âu phục chải chuốt, anh ra vào các khách sạn quốc tế một cách thành thạo và tự nhiên như mọi du khách sang trọng và lõi đời. Trái lại, mặc bộ quần áo xanh dính đầy dầu mỡ, thì không ai phân biệt được anh với người thợ điện đang chữa đường dây.

Nhưng nếu có ai đó cố tìm ở anh một nét gì cho “ra vẻ công an” thì hoạ chăng người đó chỉ nghi có đôi mắt. Đôi mắt anh to, có cái nhìn thăm thẳm, lòng đen thì đen nhánh, lòng trắng thì trắng xanh, đôi mắt sáng như gương tưởng con ruồi bay qua cũng phân biệt được con cái hay con đực.

Hiện giờ, anh chỉ là một nhân viên trinh sát chính trị của Sở công an Hà Nội. Tuy nhiên vào loại nhân viên già dặn mới được Sở giao cho điều tra vụ án hóc búa này. Bốn  chục tuổi đời của anh đã giành tròn một nửa cho nghề, vì anh làm công an ngay sau khi là một học sinh hăng hái cách mạng của trường Thăng Long, anh cùng với mọi người vượt hàng rào sắt vào chiếm Sở Mật thám Bắc Bộ ngày tổng khởi nghĩa. Hồi đó, tuy chưa biết tí gì về nghề trinh sát, nhưng làm việc giữa quê hương thủ đô, anh như cá gặp nước tha hồ vùng vẫy, chỗ nào cũng đến, gặp ai cũng quen nên chuyện gì cũng được bà con mách lại. Nhờ vậy mà có năm lần bọn Việt quốc, Việt cách đội mũ lưỡi trai của Tưởng, ngồi xe hơi của Tưởng đi phân phát truyền đơn phản động và báo Sao trắng vào tận Thanh Hoá, thì nhân dân đều báo kịp cho anh và cả năm lần đều xung phong cùng anh đi chặn bắt chúng nó giữa đường, gọn như cất vó.

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học, 2004