Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Lê Lựu

NHÀ VĂN LÊ LỰU

 

 

Tiểu sử:

Tên thật:

Sinh năm: 1942

Nơi sinh: Khoái Châu - Hưng Yên. 

Thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn

Các tác phẩm:

  •     Người cầm súng (1970)

  •     Phía mặt trời (1972)

  •     Mở rừng (1976)

  •     Ranh giới (1976)

  •     Thời xa vắng (1986)   >> Chi tiết

  •     Đại tá không biết đùa (1989)   >> Chi tiết

  •     Chuyện làng cuội (1991)   >> Chi tiết

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Bến sông

Bến lở vào mùa lũ. Những con sóng réo sôi ào ạt thúc vào bờ, bờ phản lại, sóng nhảy toá rồi ngã rạp, nhưng đất vẫn lở ra, hoắm sâu và cuối cùng đổ ùm ùm từng mảng làm cả vùng ngầu đục sủi tăm. Đến độ giêng hai, khi mặt sông chỉ còn phân vân như một bãi cát mới bừa thì ở bãi bồi bên kia sông, cây gạo nở hoa đỏ và mùa ngô sớm đang độ đông sữa. Nhìn những bắp ngô căng bẹ, hạt xếp cời lên đầu bắp, người làng bãi mẩm bụng chắc chắn về vụ bội thu nay mai. Họ bắt đầu rảnh rang sung sướng với những buổi sáng chưa rõ mặt người mang thúng, mẹt lội xuống lợi nước chao vờ. Lúc xác những con vờ xác xơ dính ệp vào các lá ngô và trắng xoá hai bờ sông, làng bắt đầu vá lưới, hạ mủng vào mùa đánh cá mòi.

Đêm. Mặt sông sánh đen. Những ngọn đèn dầu đế bằng dọc chuối ghép lại để trong lòng thúng câu nhấp nhô lúc chìm, lúc sáng. Khi ánh đèn trải đầy khắp mặt sông, lác đác có những chiếc mủng lượn lờ ghé vào bờ. Một lúc sau ở những đốm lửa nhóm bên lợi nước toả ra mùi thơm ngọt, dẻo quánh của ngô nướng và mùi cá mòi bén lửa chảy mỡ xèo xèo, ngầy ngậy lan đến tận bờ sông phía bến lở. Rồi những chiếc mủng khác lần lượt chạm cát sàn sạt, ghếch mũi lên bãi. Chỉ có tiếng cá  giẫy lách đách, tiếng người lào xào và tiếng điếu cày rít giòn tanh tách. Trao cá xong họ lại rạp người về phía trước, miết hai tay bơi để mủng vè lao đi.

Khắp mặt sông đèn vẫn nhấp nhô bồng bềnh. Nhưng khoảng sông trước mặt bến lở tối nào cũng sẫm đen lặng vắng.

Người ta bảo nơi ấy sâu lắm. Ban ngày không thấy gợn sóng, chỉ có những xoáy nước tun hút trông xa như những vết sẹo. Những mẩu gỗ, khúc chuối chảy đến đây bị hụt dựng đứng  rồi chìm nghỉm đến một đoạn xa ở cuối dòng mới nhô mập mờ khỏi mặt nước. Đấy là những đợt sóng ngầm từ đáy sông dồi lên, quanh năm chảy xiết. Ở đấy cá nhiều như ngô tháng năm. Nhưng ngoài ông già Kiêm ra không ai tìm thấy luồng cá ở khúc sông này. Người ta gọi bến lở là bến ông Kiêm, luồng cá của ông Kiêm. Và, anh thợ cắt tóc ở quán hàng Táo gần đó thì nói với khách hàng như thế này: “Anh muốn mua cá ông Kiêm à? Vâng, anh cần chép đực đầu thon, mình trắng hay muốn  chú mè thụp môi ?Anh muốn mua món cá rô õng bụng trứng để rán hay ưa con cá sủ vừa ăn thịt vừa lấy bóng làm cỗ. Vâng! Anh cứ mặc cả ạ. Trao tiền vào tay ông ta đi, vâng, anh chờ một tý. Xin lỗi, chưa nóng đít anh đã nhận được ngay con cá đúng cân lạng, đúng hình dáng mà anh mong muốn. Vâng! Hí hí, thế mới thánh.”

Nơi xuất bản: NXB Văn học, 2005