Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Hữu Phương

NHÀ VĂN HỮU PHƯƠNG

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Nguyễn Hữu Thê

Sinh năm: 1949

Nơi sinh: Đại Trạch  -  Quảng Bình

Bút danh: Hữu Phương

Thể loại: truyện ngắn

Các tác phẩm:

·           Những người bạn chí thân (1976)

·           Dòng sông chảy mãi   >> Chi tiết

·           Chuyện nơi phố nhỏ (1986)

·           Chiếc cối xay thần (1987)

·           Con người thánh thiện (1991)

·           Đêm hoa quỳnh nở (1995)   >> Chi tiết

·           Hoa cúc dại (1997)

·           Khách má hồng (2002)   >> Chi tiết

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Dòng sông chảy mãi

Cầm bức điện, anh chợt hộc lên một tiếng như con thú bị trúng đạn, vội vàng nhảy lên xe phóng đi, không biết đầu đuôi gì nữa. Anh như dòng sống chảy vật vã giữa hai bờ thương và nhớ. Bờ thương là Bình vợ anh và thằng cu Đá con anh. Bình hiền thục và chịu khó, suốt đời chỉ biết có anh, chăm sóc anh như mẹ chăm con. Còn thằng cu Đá thì khỏi nói; nó giống anh lột lạy, như thể một khuôn đúc ra. Cũng màu da ngăm ngăm, sống mũi cao và thẳng, cũng đôi mắt đen và sâu, ngời lên thăm thẳm; ông thợ cạo đầu ngõ cũng cắt tóc cho hai cha con theo kiểu đầu đinh. Từ công trường đục đá bên bờ sông trở về anh trong bộ đồ ướt đẫm mồ hôi, bạc phếch bụi đá, dày như mo nang, đã thấy trước cửa, nó trong tay Bình miệng cười toe toét, hai tay hai chân vùng vẫy như đang bơi về phía anh. Mọi nỗi mệt nhọc, lo âu từ công trường dựng tượng trong anh đều tan biến! Bình bảo anh vào rửa ráy, thay quần áo đã, nhưng anh không chịu, cứ phải thơm một cái vào chán thằng cu Đá, rồi mới chịu đi…

Bờ nhớ là nàng. Không hiểu sao số phận lại dày vò anh đến thế? Từ lâu, cái bờ nhớ ấy đã trở lên xa lắc, mờ ảo và gần như không còn nữa. Nó lặn vào tận đáy thời gian, tan biến vào hư ảo không gian. Thế mà hôm nay, nó bỗng dưng đột ngột xuất hiện, chắn ngang trước mũi anh. Anh đang ở trên giàn giáo, mải miết gõ búa vào khối đá xanh, sửa lại cánh tay cầm chèo của pho tượng một nữ anh hùng, chợt có người gọi xuống gấp và đưa cho anh bức điện. Bức điện có lẽ ngắn nhất trong lịch sử điện tín, và hẳn người ngoài cuộc chẳng ai hiểu gì, nhưng với anh là cả một trang viết, cả một thiên truyện và cả một cuộc đời. Bức điện chỉ độc một tiếng: "Hằng".

Anh không thể ghé về nhà, sợ gặp Bình và thằng cu Đá thì khó dứt ra để mà đi. Chiếc Win 100 lại như con ngựa già trung thành và tận tuỵ, chạy nóng rực trong tay anh. Độ một giờ sau, nó bỏ lại con đường rải nhựa bóng loáng như dòng sông giữa hai bờ phố xá, rẽ theo một con đường đất bằng qua cánh đồng chợt giảm tốc  độ, chạy êm trên mặt đường cát pha khi gặp vài bóng trẻ vắt vẻo trên lưng trâu đọc sách. Trái tim anh chợt nhói đau. Vẫn còn tươi nguyên đấy mà. Tươi nguyên buổi anh và Hằng gặp nhau lần đầu ở đây. Hằng ngồi lưng trâu, ngửa mặt dõi theo một cánh diều xa lắc, chiếc mũ lá như một vành trăng treo toòng teng sau gáy. Anh lúc đó cũng chỉ là một cậu học sinh cấp ba trường huyện đi học về, không hiểu sao lại bỏ cả sách vở xuống vệ cỏ và moi đất sét bờ đê nặn lại cái giây khắc sinh động ấy. Khi cô bé phát hiện ra, liền nhảy khỏi lưng trâu chạy đến. Đôi mắt tròn to và đen láy cứ hau háu nhìn cái khối đất sét trong tay anh đang dần biến thành con trâu và một cô bé vắt vẻo trên lưng ngước nhìn bầu trời với đôi mắt mơ mộng. "Ô, khéo quá! Đẹp quá!". Cô bé khẽ reo lên. "Anh nặn… ai rứa?". "Em đó!". "Rứa à. Cho em hỉ?". Cô bé thẫn thờ bẽn lẽn và xấu hổ quay mặt đi, đôi bím tóc vàng hoe rơi trong chiếc mũ lá vẫn toòng teng sau vai, khuôn mặt rám nắng cũng chợt ngời lên bởi đôi môi nở nụ cười và đôi mắt cũng nheo cười. "Tặng em đó", anh nói và chìa pho tượng đất sét mới hoàn thành về phía cô bé. "Em mừng quá. Em cảm ơn anh". Cô bé có món quà quá bất ngờ, ngoài mong ước, nên líu cả lưỡi. Anh không ngờ cái tượng đất sét trong buổi chiều xanh ấy lại như một định mệnh mang đến cho anh biết bao hạnh phúc và đau đớn khôn nguôi …

Chiếc xe rẽ vào làng, ngoằn nghèo một lúc trên những con đường quê, giữa những khu vườn cam mít níu cành sang nhau, cuối cùng nó dừng lại trước một con ngõ nhỏ có cánh cổng tre đóng khép ở rìa làng. Đó là ngôi nhà của cha mẹ anh. Mảnh vườn đất cát, xuôi thoai thoải ra phía ruộng lúa; nửa thấp loi thoi những ngọn rau lang hoe vàng vì thiếu phân và bàn tay con người chăm sóc, hàng tre làm bờ rào cũng còi cọc xơ xác can trường chắn gió; nửa cao có một gốc bưởi, vài gốc cam, còn lại là mãng cầu đang mùa ra trái. Thật lạ cây cỏ muôn đời cứ lặng thầm rút ruột để làm nên những mùa màng cho con người dù từ lâu con người bỏ rơi chúng. Anh ngẩng đầu lên, cây đào roi đã toả bóng một góc sân nhà. Đây là cây đào được chiết từ cây đào nhà Hằng. Bố Hằng bảo giống cây này chịu được đất cát; ông biếu anh ngày anh đến vô tình khi đang tìm những pho tượng của chùa Đồng Dương bị tản mác trong dân sau chiến tranh. Nhà Hằng không giữ pho tượng nào của chùa, nhưng lại giữ cái tượng đất sét cô bé cưỡi trâu của anh. Nó được đặt cạnh cửa sổ trên chiếc bàn học của Hằng. Pho tượng trơn bóng mồ hôi, chứng tỏ nó được chủ nhân nâng chiều hàng ngày. Anh đứng lặng thở gấp, một cảm giác mạnh không gọi thành tên trào dâng lồng ngực. Anh chợt nhớ ra, bây giờ Hằng đã là nữ sinh trung học rồi còn gì? Đấy là dịp mùa hạ, khi anh đang học năm thứ hai của trường Mỹ thuật. Sau này, khi hai người yêu nhau thắm thiết, anh cho rằng, đó là do thần linh run rủi, để anh tìm được cô bé chăn trâu buổi ấy.

Anh đã có những năm tháng hạnh phúc nhất trong phần đời trai trẻ của mình…

Nơi xuất bản: NXB Văn học - 2004