Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Hồng Nhu

NHÀ VĂN HỒNG NHU

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Hồng Nhu

Sinh năm: 1934

Nơi sinh: Phú Lộc-Thừa Thiên- Huế

Bút danh: Hồng Nhu

Thể loại: truyện ngắn, kí, thơ

Các tác phẩm:

  •     Rừng thông cao vút (1969)

  •     Ý nghĩ mùa thu (1941)

  •     Tiếng nói chim sâu (1976)

  •     Đêm trầm (1976)

  •     Gió đồi (1978)

  •     Cây tâm hồn trắng (1984)

  •     Ngẫu hứng về chiều (1988)

  •     Nước mắt đàn ông (1992)

  •     Chiếc  tàu cau  (1995)

  •     Thuyền đi trong mưa ngâu (1995)

  •     Biển ở ngay thềm nhà      >> Chi tiết

  •     Rêu đá (1998)

  •     Mưa gió đầy trời (1999)

  •     Trà thiếu phụ (2003)

Giải thưởng văn chương:

  •     Giải A của Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1995 cho tập truyện Thuyền đo trong mưa ngâu

Giới thiệu một tác phẩm:

Vịt trời lông tía bay về

Đầm phá bao la, khúc phình ra, khúc eo lại kéo một vệt dài theo mép biển, chạy suốt từ Thuận An đến Tư Hiền, nối liền hai cửa.

Tháng giêng, khi cái rét cuối mùa còn nấn ná trong màn sương thưa màu tàn giấy buông lơ lửng trên vòm cây xuống sát mặt cỏ, thì làng xóm ven bờ bắt đầu rậm rịch vào mùa hội lễ cầu ngư.

Trong lúc dân đánh cá chuyên sống trên cạn, đẫm mình vào không khí đình đám, rước cầu rộn ràng mổ bò, mổ heo ăn uống xô bồ thì dân vạn chài đầm phá chuyên sống trên mặt nước hành lễ theo tục lệ riêng của họ một cách lầm lì, đậm màu bi tráng hoang dại. Dân trên cạn gọi họ là “bọn mọi đầm”.

Từ xa xưa, có lẽ từ khai thiên lập địa, và không biết khởi đầu từ đâu, từ điều gì, dân chài đầm phá quen sống cô lẻ từng vạn thuyền một. Gần như họ không có ý thức cộng đồng và không chấp nhận sự cộng đồng. Người già kể lại rằng, sau Tết, vào một ngày giữa tháng Giêng nắng ráo, nhưng thường là còn căm căm gió đông bắc, họ nhổ sào từ nơi ẩn trú đưa thuyền ra giữa vời phá mênh mông. Họ bày bàn lễ Thấm Đầm ngay trên đầu mũi thuyền. Mâm cúng đơn sơ nhưng khác thường. Ngoài đồ mã như mũ mãng giáp giày băằg giấy và hương hoa, người bà bày độc một thau đựng nước trong đó lững lờ bơi mấy chú cá. Trên miệng thau, hai thanh tre nhỏ bản đặt chéo chụm đầu lại thành hình chữ V, phần hở hướng vào lòng thuyền, tượng trưng cho sự vây bủa thắng lợi. Chủ thuyền, đóng khố hoặc quần đùi, mình trần trùng trục, một dải vải đỏ dài đủ chít một vòng ngang trán, hai múi quàng vòng ra sau vai, luồn qua nách, thắt hờ lại rồi buông thõng giữa hai vầng vú. Người vợ chủ thuyền cũng phục sắc như vậy, chỉ khác là phần dưới mặc quần vo lên ngang bắp chaâ. Đứa con trai trưởng của họ ăn mặc như bố, hai tay cầm hai thanh gỗ gõ vào mạn thuyền loong coong theo nhịp một. Hương trầm đốt kên, thaâ chủ rì rầm khấn. Đoạn anh ta thò tay vào thau nước, tài tình nhót lên một chú cá đang lượn lờ, ngậm ngang miệng, nhảy xuống sông bơi đứng. Cách thuyền khoảng mươi sải, anh ta dừng lại, rút con cá từ miệng ra tung cầu vồng lên thuyền. Người vợ dã sẵn sàng, hai tay cầm chiếc vợt đưa ra đón con cá, thành thục và chuẩn xác như xiếc. Trong giờ khắc đó, nếu chị ta hứng trật thì xự xui cả năm là phần chắc. Nhưng điều này gần như chẳng bao giờ xảy ra. Khi người vợ nghiêng vợt đổ con cá vào sạp thuyền, người chồng liền hụp đầu lặn xuống đáy đầm. Ở đó, anh ta lạy Hà Bá hai lạy như người đang trên cạn vẫn lạy. Xong, bơi trở lại thuyền. Tất cả lễ vật đều trút xuống sông dâng Hà Bá, trừ con cá ném từ dưới lên. Đó là con cá mà thần phú đã ban tặng cho thân chủ. Lễ tất.

Vào một ngày như thế, một chiếc thuyền đóng toàn bằng tôn trắng không rỉ của Mỹ từ mút đầm Thuỷ Tú lướt bay ra mặt phá Cầu Hai. Bấy giờ là lúc họ vừa lễ Hà Bá xong, trên chiếc trang thờ nhỏ được trang trí khá đẹp bằng nhựa màu và giấy trang kim lấp lánh treo chính giữa vòm, cách ngăn nhìn từ cửa mui vào, nén hương cúng ông bà tổ tiên đang cháy nốt phần còn lại. Những người lớn đã ăn xong, đã vào việc của mình. Một bầy năm sáu đứa con trai gái …

 

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học, 2002