Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Hoàng Công Khanh

NHÀ VĂN HOÀNG CÔNG KHANH

 

Tiểu sử:

Tên thật: Đoàn Xuân Kiều

Sinh năm: 1922

Nơi sinh: Kiến An - Hải Phòng

Bút danh: Hồng Thao, Kiểu Kiến

Thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự, thơ, kịch thơ

Các tác phẩm:      

  •     Mối tình đầu (1951)

  •     Bạn đường (1953)

  •     Mẹ tôi sớm biệt một chiều thu (1953)

  •     Trại Tân Bồi (1953)

  •     Yêu chỉ một lần (1954)

  •     Éo le ( 1954)

  •     Đôi mắt màu tím (1994)

  •     Danh tướng Trần Hưng Đạo (1995)

  •     Vua Đen (1996)

  •     Hoàng hậu hai triều vua Dương Vân Nga (1996)

  •     Vằng vặc sao Khuê (1998)

  •     Trên bến Búng (1947)

  •     chuyện người tù binh Algeria (1948)

  •     Du kích Tam Tỉnh (1991)

  •     Hoa nhạn lại hồng (1991)

  •     Hà Nội không ngủ (1948)

  •     Về hồ (1946)

  •     Ngoạ triều (1953)

  •     Bến nước Ngũ Bồ (1953)

Giải thưởng văn chương:

  •    Giải thưởng Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam 1994 với tiểu thuyết Đôi mắt màu tím

  •    Năm 1997 vở kịch Hoàng hậu hai triều vua Dương Vân Nga được giải thưởng Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam

  •    Năm 1998 tiểu thuyết Vằng vặc sao khuya được giải thưởng Thăng Long Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội

Giới thiệu một tác phẩm:

Về thăm làng tề

Tảng sáng hôm 30 Tết, Trùm Khướt mới về đến cổng làng. Gọi là làng nhưng chỉ còn có cái tên. Giá gọi là đám cháy bỏ hoang thì đúng hơn. Chả còn mái nhà nào nguyên vẹn. Cau, na, tre, chuối không bị lửa thui sém thì cũng bị chặt trụi. Tro đen phủ khắp mọi chỗ. Gió bấc ào ào, bốc lên mù mịt.

Trùm Khướt ngồi bệt xuống chân đống ngay đầu làng, bên cạnh con chó đá cụt đầu, nằm chỏng gọng trơ bốn vó cứng. Cái đống ấy trước vẫn thờ ông Đống. Thiêng phải biết. Truyền khẩu rằng có anh đái bậy, vừa vạch quần lên bị ông Đống vật ngã lăn ra, hộc máu mồm, chết tươi đứ đừ. Bạo mấy thì bạo chứ dử thính cũng chẳng anh nào dám trên vào. Liều lĩnh bướng bỉnh như lão, mà ngay lúc rượu vào, lão cũng kiêng đấy.

Trùm Khướt mắt nhìn những hình thù lờ mờ trong làng, tay nhoay ngoáy bóp chân. Gớm! Mỏi nhừ cả người. Bụi đường bám đến đầu gối, xám xịt. Rét ngọt cắt ruột. Ấy thế mà người lão nhơm nhớp, dấp dính khối mồ hôi. Lưng lại đau như tiện ấy.

Nhân thể, lão ngã luôn người xuống mé đống, chân duỗi thẳng. Gói quần áo bọc trong cái mảnh vỉ buồm lão kê xuống dưới gáy làm gối. Kể ra với cái tuổi ngoài năm mươi mà như lão cũng còn là khoẻ chán. Con trai mười tám cũng vị tất ăn đứt. Từ chặp tối hôm qua đến giờ lão cuộc được hơn 80 cây số còn gì! Ôn lại những chặng đường đã qua mà xem: Hà Nam - Cầu không một thôi này, Cầu không - Như trác một thôi này, Khảm qua Đại Hà sang bến Nhật Tảo thẳng về Tiên Hưng một thôi này, Tiên Hưng - Ngã tư Môi một thôi này, Ngã tư Môi - Nhân Hoà một thôi này... Mà lại có đi được đàng hoàng đâu. Toàn là men đường bờ với lội ngôi cả. Cũng may là chẳng gặp một tên giặc nào.

Nằm một lúc, hơi nóng trong người Trùm Khướt ngội dần. Sương sớm xuống phơi phới. Lão thấy hơi lành lạnh, liền nhỏm dậy, cởi bọc vỉ buồm, lấy thêm cái áo cánh nâu rách và cái quần dài cũ xé làm quần cộc buộc trùm lên đầu, quấn vòng xuống cổ cho gió khỏi lọt vào tai. Tự nhiên lão thấy nhạt miệng. Lão liếm môi, chẹp chẹp mấy cái. Giá có cút rượu thì tốt quá. Rượu, nhất là rượu ngang nó hành huyết lắm. Ba hớp là đỡ mỏi mà lại ấm. Nhưng giờ thì đào đâu ra rượu!

Trời đã sáng rõ mặt người, Trùm Khướt giũ áo đứng lên. Lão cắp cái vỉ buồm nhẹ tênh tênh vào nách, nhìn ngược nhìn xuôi một tí rồi bước qua cái cổng đất ụp vào làng.

Tro xám lem nhem mặt con được sống trâu. Lá tre tơi tả, xạc xào. Mấy bức vách đất ở gần đường đổ ngã ra ngoài. Đất lả tả bạc phếch. Đấng tre trơ ra, lởm chởm như những hàng răng sâu. Một mái nhà cháy dở dang nằm úp sấp, một nửa trên bờ cỏ vặn, một nửa dưới cái ao cạn nước, hoa bèo tây tím nhạt lổ đổ. Những khóm chuối héo quắt, đứng rũ rượi như những tên tử tù bị chém cụt đầu phơi nắng. Nhiều chỗ, cỏ mọc cao ngang bắp chân, cứa chân lão như mảnh nứa cọ vậy.

Tới một ngã ba, Trùm Khướt sũng người. Lão ngờ ngợ. Không biết có phải lối này về xóm Cả Nhắng không đây? Khó nhận quá! Mà quái, sao lại không có bóng một người nào! Lão nghe nói khối người hồi cư rồi kia mà! Có thế lão mới lần về thăm đấy chứ!

Trùm Khướt đảo mắt nhìn quanh. Một khoảng nền nhà gần đó được ai xới lên, đánh luống trồng rau. Mấy cây cải bẹ để giống, phơ phất bông hoa vàng ủng. Một bức vách đã rụng hết đất, biến thành một giàn bí, quả đu đưa lủng liểng. Lão dụi mắt Đúng nhà Cả Nhắng đây rồi! Lão nhận ra, cười khè. À, thảo nào!

Trùm Khướt liền đi tắt qua một cái sân đất, chân lão sục cả vào tro khô, vón cục. Lão đá phải một cái vỏ sành mất cổ lăn lông lốc. Những hạt thóc cháy đen đóng vón lại thành từng cục ở trong tuôn ra rông rốc. Một chiếc nồi đồng bị lửa đốt bẹp rúm như tờ giấy trắng kimcháy bị vò nát vứt giữa sân không ai buồn nhặt.

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Thanh Niên, 2004    

 

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí