Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Hồ Anh Thái

NHÀ VĂN HỒ ANH THÁI

 

Tiểu sử:

Sinh năm: 1960

Nơi sinh: Quỳnh Lưu - Nghệ An

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:      

  •     Chàng trai ở bến đợi xe (1985)

  •     Phía sau vòm trời (1986)

  •     Vẫn chưa tới mùa đông (1986)

  •     Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987)

  •     Người đàn bà trên đảo (1988)

  •     Những cuộc kiếm tìm (1988)

  •     Mai phục trong đêm hè (1989)

  •     Trong sương hồng hiện ra (1990)

  •     Mảnh vỡ của đàn ông (1993)

  •     Người đứng một chân (1995)

  •     Lũ con hoang (1995)

  •     Tiếng thở dài qua rừng kim tước (1998)   >> Chi tiết

  •     Họ đã trở thành nhân vật của tôi (2000)

  •     Tự sự 265 ngày (2001)

  •     Cõi người rung chuông tận thế (2002)

  •     Bến Osin   >> Chi tiết

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Cứu tinh

Rồi xí nghiệp sẽ bị đóng cửa. Đó chỉ là chuyện ngày một ngày hai.

Rồi mai sau, nếu có nhắc tới các tên xí nghiệp bóng đèn Hồng Đăng, người ta chỉ  nhớ rằng đó là một xí nghiệp đã từng làm ăn khấm khá, đèn điện sáng trưng trong phòng hội nghị, phòng cưới và trong câu lạc bộ các bậc lão thành. Nhưng cũng cái xí nghiệp đó bỗng đổ đốn ra, ngày càng thua lỗ, đến mức bị đóng cửa. Nó không biết làm ăn, nó lèm nhèm. nó bị giải tán, cho nó đáng kiếp. Nhưng chỉ vì nó không hoạt động nữa mà cả thành phố phải chìm trong bóng tối (vì không có bóng đèn) thì không thể tha thứ được.

Thế là một cuộc biểu tình nổ ra, thật là chưa từng thấy. Bóng đèn, bóng đèn, chúng tôi cần bóng đèn!

Người thích những ngôn từ khái quát thì hô: Ánh sáng, ánh sáng, nhân dân cần ánh sáng! Nghĩa là tất cả đều hô. Mỗi người tuỳ theo khẩu vị ngôn ngữ mà chọn một câu để hô.

Bà phó giám đốc Xí nghiệp hầu như kiệt sức khi về đến nhà. Ngồi một mình trong căn phòng âm u, mãi sau bà vẫn không hoàn hồn. Biểu tình? Người ta thường biểu tình vì hoà bình, nhân loại nghĩa là vì sự sống của con người, đằng này quần chúng biểu tình để bắt một nhà máy thua lỗ phải tiếp tục hoạt động, tức là đấy mấy ngàn cán bộ công nhânviên vào chỗ chết? Chúng tôi không cần biết chuyện càng cho ra nhiều sản phẩm các người càng lỗ, càng không có tiền trả lương cho công nhân, chúng tôi cần ánh sáng. Dân chúng đấy. Ghê gớm chưa.

Bà phẫn uất chồm đứng dậy, và bỗng xây xẩm mặt mày. Như bị tát nảy đom đóm, bà lảo đảo ngã xuống giường. Bóng tối trùm lên. Chuyện thường thấy ở một người huyết áp thấp, đã hoàn toàn kiệt sức.

Trong bóng tối dày đặc có một người xiêm áo rực rỡ hiện ra truyền rằng ngày ấy tháng ấy, từng ấy độ bắc vĩ, từng ấy độ kinh đông, cách trung tâm thành phố chừng mười dặm, sẽ xuất hiện một vị cứu tinh.

- Cứu tinh? Ai là vị cứu tinh lúc này, thưa ông? - Bà hỏi.

- Vậy các người đang cần ai?

Người ấy mỉm cười hỏi lại, rồi người ấy biến mất.

Bà phó dần dần hồi tỉnh. Thôi đúng rồi, Xí nghiệp đang cần một giám đốc có biệt tài quản lý, làm cho nó tiếp tục hoạt động và ăn nên làm ra. Quên cả mệt, bà lao ngay đến nhà mấy người thân tin trong ban lãnh đạo Xí nghiệp. Họ hăm hở lôi ra một tấm bản đồ giống như bản đồ theo dõi các cơn bão vùng biển Đông, và xác định được toạ độ, nơi sẽ xuất hiện vị cứu tinh.

Đêm hôm ấy cửa Chấn Hưng hoàn toàn vắng vẻ. Xe đi xe đón lãnh đạo nép dưới

một lùm cây bên đầu cầu. Khoảng mười một giờ, phía đầu cầu bên kia xuất hiện một người đàn ông trong bộ com-lê sáng màu, dáng đi đĩnh đạc. Khoảng cách giữa hai cầu khá xa, đêm đen đặc, người ấy lại không hề có hào quang, thế mà những người đi đón vẫn thấy rõ người ấy đang mỉm cười với họ, lại còn giơ tay vẫy họ. Các vị ấy vẫn giống nhau ở cách vẫy tay như vậy, nhưng người này có khác một chút là vẫy tay bằng mặt trái. Để ý kỹ hơn, thấy tay ông ta vung hơi nhẹ, hơi cứng, trong khi tay trái vẫn chào thoải mái. Giám đốc mới thuận tay chiêu.

Ông giám đốc tay chiêu vẫn đưa tay vẫy, vẫn mỉm cười, nhưng khoảng cách giữa hai bên không vì thế mà được rút ngắn lại. Có một khoảnh khắc ông dường như biến mất, sau đó lại xuất hiện ở chỗ cũ, lại vẫy tay như không hề biết mỏi. Một vài người nôn nóng bước lên mấy bước, nhưng họ tiến lên chừng nào, ông giám đốc tay chiêu lại lùi xa chừng ấy. Ông ta chờn vờn như thế tới hai ba mươi phút, rồi hoàn toàn tan biến vào màn đêm.

Sáng hôm sau, bà phó quyết định sẽ không chờ thần báo mộng đột ngột xuất hiện, mà chủ động tạo điều kiện để ông ta đến. Bà kéo tất cả rèm cửa sổ, cửa chính, cho căn phòng chìm trong một thứ ánh sáng âm u lạnh lẽo. Bà quyết định để cho mình bị đói đến hoa cả mắt, không uống chè và cà phê, mong tái diễn những triệu chứng của một người huyết áp thấp. Quả nhiên đang ngồi bên mép giường, bà thình lình đứng vụt dậy, choáng váng như búa bổ vào đầu, rồi ngã xuống.

Ông thần phán bảo:

- Vị cứu tinh chưa giáng trần được. Kiếp trước của người chưa đến phút chót.

- Vậy kiếp trước của người ở đâu?

Thần lại bảo hãy đến vĩ độ ấy, kinh độ ấy, nếu muốn biết kỹ càng như thế. Người ta xác định được ngay toạ độ. Đấy là bãi Phúc Lộc, ven sông.

Bấy giờ ở ngoài bãi sông, ông lão ăn mày vẫn đang hấp hối. Ông đá hấp hối như vậy suốt hai ngày nay, bao nhiêu lần tưởng đã trút hơi thở cuối cùng, thế mà không trút được. Ông lịm đi trong một chuyến du hành êm dịu để trở về bến cuối. Rõ ràng có một cỗ xe mây với một khúc nhạc gió đang đưa ông đi. Đã mấy lần trông thấy cái cổng vàng đằng xa, nhưng rồi cỗ xe lại hạ thấp dần, thấp dần, ông lại trở xuống bến sông. Ông như thấy lại cái con bé đang đứng khóc vào cái buổi ông trở về túp lều sau một …

 

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2003