Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Dũng Hà

NHÀ VĂN DŨNG HÀ

 

Tiểu sử:

Tên thật: Phạm Điệng

Sinh năm: 1929

Mất năm:  1982

Nơi sinh: Vũ Thư - Thái Bình

Bút danh: Thái Linh

Thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn

Các tác phẩm:

  •     Gió Bấc (1963);

  •     Sao Mai (1974, 1980, 1987);

  •     Mảnh đất yêu thương (1978);

  •     Đường dài (1987);

  •     Quãng đời xưa in bóng (1990);

  •     Cây số 42 (1995).

  •     Sông cạn

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Phận gái

Trời đã xẩm tối. Chị Xuân ngồi lên chiếc xe ôm quay về Hà Nội mà lòng chưa hết xúc động. Thế là ròng rã gần năm mươi năm trời, nay chị sắp tìm được chính xác mộ cha ư? Bố ơi, vong linh bố khôn thiêng xin hãy đưa đường chỉ lối cho con, giúp cho con tìm được phần mộ của bố. Nắm xương tàn của bố không biết nay có còn được nguyên vẹn hay không?

Năm 1993, vào dịp giỗ trận, nhân dân xã Chi Lăng tổ chức lễ khánh thành nghĩa trang liệt sĩ đã được tu bổ lại lần thứ hai. Lần thứ nhất, nhân dân đã tổ chức cất bốc quy tụ gần hai trăm mộ liệt sĩ, chôn tập trung ở ba nơi trong xã. Năm 1971, nghĩa trang được xây dựng xong. Hài cốt từng liệt sĩ được đặt vào trong từng chiếc tiểu sành đậy nắp bằng sáu viên gạch lớn. Gần hai trăm nấm mộ được an táng nghiêm cẩn nhờ sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo tỉnh Hà Bắc và huyện Quế Võ, cùng với tấm lòng thương yêu không cùng của bà con xã Chi Lăng. Đến năm 1993, nghĩa trang lại được tu bổ khang trang, bề thế nhờ có sự quan tâm lớn của Quân khu Hai và nhà hảo tâm, ông Nguyễn Trịnh Khắc lúc ấy là tổng giám đốc Tổng công ty Tocontap. Ông Khắc vốn là một chiến sĩ cũ của Trung Đoàn 98. Biết được có nghĩa trang Chi Lăng, nơi an táng những anh em đồng đội của mình khi xưa, với tấm lòng xót thương đồng chí, lại căn cứ vào khả năng có hạn của cơ quan mình, ông Khắc đã bàn bạc với lãnh đạo Tổng công ty, thực hiện việc đền ơn đáp nghĩa bằng cách đóng góp một phần khả năng vào việc tôn tạo nghĩa trang lớn này.

Hôm ấy, trong hàng trăm người từ các nơi đổ về và từ các thôn làng của xã Chi Lăng, người ta thấy một cặp vợ chồng còn khá trẻ, mang một vòng hoa lớn từ Hà Nội về, kính cẩn đặt trước đài liệt sĩ uy nghi, lộng lẫy, rồi cúi đầu khấn vái rất lâu với vẻ hết sức thành kính. Đấy là vợ chồng Nguyễn Thị Xuân và Trần Văn Ngâm. Nhưng gương mặt hai người vẫn rầu rầu, như có điều gì u uất. Xuân đã cùng chồng đi thắp hương khắp các nấm mồ vô danh. Đến mộ nào chị cũng lầm rầm khấn vái "Vong linh bố nằm ở đâu xin hãy về đây chứng giám cho chúng con. Bố hãy báo mộng cho con là hiện bố đang nằm ở chỗ nào. Con sẽ đưa bố về nhà, về nơi quê cha đất tổ, có họ hàng, ông bà chú bác, ấm áp tình làng nghĩa xóm. Con là đứa con côi cút của bố đây."

Biết bao nhiêu lần, Xuân tâm sự với chồng:

- Em biết rằng, người chiến sĩ ngã xuống, nằm đâu cũng là mảnh đất Tổ quốc. Nhưng mỗi khi về làng, ra nghĩa trang của xã nhìn tấm bia mộ giả ghi tên bố, lòng em đau đớn lắm. Làm sao tìm được bố, đưa bố về an nghỉ vĩnh viễn nơi quê cha đất tổ. Nhiệm vụ này, em tự đặt lên vai mình. Bởi vì, anh biết đấy, bố mẹ em chỉ có một  mình em. Làm sao em yên lòng trước cảnh này?

Trần Văn Ngâm, vốn là một kỹ sư lâm nghiệp, đã từng học hành tại Cộng hoà Dân chủ Đức, hiện là Phó giám đốc một công ty thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, nắm chặt tay người bạn đời, cũng là người cùng làng, cùng là bạn học thủa thiếu thời.

- Anh hoàn toàn đồng cảm với em về việc này. Bởi vì bố em là bố anh. Hai cụ xưa cùng lứa tuổi với nhau. Bố anh hy sinh ngay trên mảnh đất làng trong trận đánh giặc Pháp. Nhưng may mắn là còn giữ được hài cốt trong nghĩa trang liệt sĩ của xã nhà, bên cạnh nấm mộ tượng trưng của bố em. Anh cũng coi đó là việc của chính mình.

Từ ấy năm nào Xuân cũng về Chi Lăng hai lần. Lần thứ nhất vào ngày giỗ trận 20 tháng 4, ngày mà cha chị hy sinh. Khi thì đi với chồng, khi có con gái đi theo. Bước vào nghĩa trang hiu hắt mà trang nghiêm, sau khi xin phép người quản trang, chị đặt lễ vật mang theo lên bệ đài Tổ quốc ghi công, chân thành khấn vái vong linh các liệt sĩ đã hy sinh vì nước, cầu mong các anh linh hãy về chứng giám cho tấm lòng của chị và cùng hưởng chút lễ mọn mà chị tâm thành dâng tiến. Lần nào chị cũng tần ngần đứng trước tấm bia lớn đặt bên cạnh lễ đài, ghi tên các liệt sĩ của Trung đoàn. Tất cả mới có 84 người. 84 cái tên, có cả tên cha chị trong số gần hai trăm ngôi mộ. Vậy là còn bao nhiêu các chú các anh đã ngã xuống nơi đây từ hơn bốn chục năm nay, vẫn là chiến sĩ vô danh. Thật là xót thương. Các anh ơi, mỗi anh nằm đây đều có một gia đình, cha mẹ, anh chị em và có người đã có vợ con. Ngày tháng trôi qua, đá cũng phải mòn mà đến nay gia đình các anh nào biết được người thân ruột thịt của mình nằm đâu?

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 2002     

 

 

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí