Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Cao Tiến Lê

NHÀ VĂN CAO TIẾN LÊ

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Cao Tiến Lê

Sinh năm: 1937

Nơi sinh: Đô Lương - Nghệ An

Bút danh: Cao Tiến Lê

Thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

·           Phía trong (1972);

·           Ngược rừng Ba Chẽ (1976);

·           Bến quê (1976);

·           Mùa ca cao (1982);

·           Cây Sau Sau lá đỏ (1982);

·           Đại đội chân đất (1982);

·           Một nửa cuộc đời (1978);

·           Bây giờ nên xử sự thế nào (1987);

·           ở trần (1990);

·           Nếm trải Điện Biên (1992);

·           Con nuôi thầy phù thủy (, 1994);

·           Vỏ trứng thạch sùng (1995);

·           Đến với bình ninh (1995);

·           Trung tướng giữa đời thường (1995).

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Người gác chợ

 

            Hẹn bước qua bậu cửa rồi mà không nhớ là mình đang làm gì khi cầm dao trên tay, trong người bừng bực như gặp thời tiết oi bức - vậy mà cũng quên. Nhà có bốn người nhưng sáng nay chỉ còn bẩy chiếc đũa, rơi đâu một. Cô đi vào rồi lại bước ra, nhìn quanh quẩn… chẳng có mảnh tre nào. Nắng loé trên khung nhà thiếc san sát không một bóng cây. Nắng xèo xèo ran trên nóc. Mệt đến tức thở.

            Khu đồn không có gió. Muốn tạo gió cũng chịu. Hẹn thèm được ngồi trên chiếc võng gai như thuở nhỏ ở nơi làng cũ, à ơi ru em, đạp chân vào cột nhà, đu tít xà ngang. Gío lùa vào miệng làm em nín thít rồi lim dim mắt ngủ. Hẹn cũng chợp theo. Nghe em trở tay, Hẹn lúc lắc cho võng đung đưa, bất chợt miệng u ơ: “cây đa ba nhánh chín chồi… muốn về quê bạn cạp cồi lội ngô”

            Hồi đầu, Hẹn hát chỉ được vài ba câu, mỗi lần bồng em với giọng chua loét. Sau lắng nghe tiếng ấm ấm ân tình và dịu ngọt của má và các thím bên xóm, rồi bọn cùng lớp họp nhau dưới bụi cây bấm đốt ngón tay đố xem đứa nào biết nhiều câu hát hơn. Song lấy chạc mo làm gióng, giả đò đi chợ mua bán. Còn mấy đứa con trai thì xát vô giật gióng tung cho mắc trên lùm cỏ tre. Tụi Hẹn giằng lại, chìa một ngón tay vào mặt xỉa xói không kém phần đanh đá như các bà hàng xóm: “quân trời đánh! Quân quét chợ Đà Nẵng!”. Nghe nói thì bắt chước thôi, Hẹn đã ra Đà Nẵng bao giờ mà biết.

Con Tư biết nói thì má đẻ thằng Nam. Những câu hát vu vơ nghe đến nôn ruột, Hẹn giao lại cho em. Chốc chốc nó lại vào hỏi: “cây đa mấy nhánh a chị…”.

            Hẹn bận theo ba má làm công việc đồng áng, chỉ vài tiếng nghỉ trưa mới có dịp ru thằng Tư. Nói là ru thằng Tư nhưng thực ra là ru mình. Ngỏ niềm tâm sự của mình. Hẹn cũng không rõ mình đã chọn câu hò hơi có ý tứ từ lúc nào? Có phải từ lúc khuy áo trên ngực khó cài, hay da thịt căng chật trong lần vải lót? Những câu ca dao sao mà hợp thế, cứ như sáng sáng chụm hai bàn tay vục nước Thu Bồn phả lên mặt, khi dòng sông còn bốc hơi và vài chiếc thuyền chưa rõ nét lướt qua, vang vọng tiếng canh cách xua cá về một hướng. Dải ruộng xanh chiều làng quê, cánh cò vô tư và những đám mây bồng bềnh trên ngọn núi Thượng Đức. Cho đến một hôm thoắt thấy anh chàng ngày xưa cướp gióng chạc mo tung lên lùm cỏ tre vừa đi qua, Hẹn buột miệng: “trách mình chẳng trách ai đâu… trách giếng sâu nỗi gì?…”

 

Nơi xuất bản: NXB Hội nhà văn, 2003