Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Anh Đức

NHÀ VĂN ANH ĐỨC

 

Tiểu sử:

Tên thật: Bùi Đức Ái

Sinh năm: 1935

Nơi sinh: Châu Thành - An Giang

Bút danh: Anh Đức

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

ê    Biển động (1952)

ê    Lão anh hùng dưới hầm bí mật (1956)

ê    Một truyện chép ở bệnh viện (1958)

ê    Biển xa (1960)

ê    Bức thư Cà Mau (1965)

ê    Giấc mơ ông lão vườn chim (1970)

ê    Hòn đất (1966)

ê    Đứa con của đất (1976)  >> Chi tiết

ê    Miền sóng vỗ (1985).

Giải thưởng văn chương:

ê   Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (truyện, 1965)

Giới thiệu một tác phẩm:

Hòn đất

 

Bữa nay đã hai mươi tháng chạp ta rồi.. còn có chục ngày nữa là Tết..

Tên thiếu tá Sằng nằm ngửa trên chiếc võng đan bằng dây dù, miệng lẩm nhẩm như thế. Chiều đã xuống. Sau một ngày tranh đấu, cả Hòn Đất như hãy còn vang tiếng thét. Trên mặt đường, bụi cũng chưa lắng xuống hết. Đó đây vẳng lên tiếng trâu nghé ngọ gọi bầy, tiếng súng nổ lẻ tẻ "bốc chát" và tiếng sóng biển đồng bọn ầm ĩ!

Tên Sằng nằm giữa buổi chiều ấy, thân thể rã rời. Hắn cảm thấy không yên tâm. Hồi xế hắn buộc lòng phải ký chung vào lá đơn của những người lính đòi mở cuộc điều tra về số phận của ngót năm mưới đồng đội bị thương của họ. Sau khi đặt bút ký rồi hắn thấy nản lòng và mất nhiều tin tưởng. Cái hang Hòn có vỏn vẹn mười chín người cố thủ này chiều nay đối với hắn càng trở nên kiên cố, hóc hiểm. Nằm đây, hắn nhìn thấy đỉnh Hòn xanh ri, trơ trơ, sừng sững ra đó một cách đáng ngán. Ban trưa, giữa lúc hắn còn kỳ kèo chưa chịu ký vào lá đơn thì tên trung úy Tự trở về báo là Việt cộng đã moi được hang. Hắn bối rối, mới hạ bút ký. Chớ theo lẽ thì hắn cũng chưa chịu xuống nước đến thế. Hôm nay hắn không có được mối hy vọng như mấy hôm mới đến. Sự cả tin đánh diệt được hang Hòn của hắn cứ theo từng ngày mà sụt thấp xuống mãi. Đây là lần đầu tiên sau sáu năm, một tên thiếu tá chí cốt như hắn lại gặp trở lực lớn như vậy.

Chiều nay hắn chán lắm rồi. Hắn không muốn thúc lính xông vô hang nữa. Hắn chẳng thiết cái vùng đất Hòn nhiều cây trái này nữa. Cả bãi Tre mà buổi đầu đặt chân đến hắn đã tắc lưỡi khen đẹp và dự định trong thời gian ở đây hắn phải tắm mỗi ngày ít nhất một lần. Bây giờ bãi Tre với hắn chẳng có gì là đẹp đẽ nữa.

Đúng vào lúc hắn nằm chán ngán nhìn cái đỉnh Hòn sừng sững như thách thức, thì ở phía sau nhà có tiếng tên giữ máy bộ đàm người Bắc léo nhéo:

- A lô.. vâng, vâng. Anh dũng đây!.. Vâng, thiếu tá.. à đợi một tí nhé..

Tên Sằng nhỏm ngay dậy. Hắn hỏi tên điện báo viên người Bắc vừa ló đầu ra:

- ở đâu kêu tôi đó?

- Thưa thiếu tá, Vẻ vang gọi

Thiếu tá Sằng liền hất võng, chạy vào. Hắn tròng vội máy vào tai, cầm lấy ống nói:

- A lô, Vẻ vang đâu, Vẻ vang đâu?.. A.. Vẻ vang đó à?.. Phải.. Phải.. chính tôi đây..- Giọng tên Sằng vụt trở nên cóm róm: - Dạ, dạ..dạ tôi nghe.. Dạ, vừa rồi tôi đã báo cáo vụ đó.. Dạ không yên, khó khăn lắm. - Đến đây vẻ mặt tên Sằng vụt sa sầm rồi lại bỗng nhiên hớn hở hẳn lên: - Dạ, dạ.. trước sáng.. dạ được, dạ để tôi cho đánh.. dạ, dạ sẽ cho đánh ngay..

Tên Sằng buông máy, mặt hớn hở. Hắn gỡ ống nghe ở tai ra, đứng dậy. Tên điện báo viên tò mò hỏi:

- Thưa thiếu tá. Vẻ vang kêu đánh nữa đấy à?

Tên Sằng vui vẻ vung nắm tay:

- Chớ sao, phải đánh tới nữa chớ sao!

Bỗng hắn đặt ngón tay lên môi, ghé sát vào tai tên điện báo viên, hạ giọng:

- Nè, nói cho mình anh biết thôi.. có lịnh rút rồi!

Tên điện báo viên gật đầu

Tên Sằng quay ra ngoài. Hắn bảo một tên thiếu úy:

- Anh báo cho các ban chỉ huy tiểu đoàn, đại đội cử người về họp ngay bây giờ?

Tên thiếu úy đến một cái bàn kê gần đấy, quay điện thoại, gọi hết cánh quân này đến cánh quân khác, xuống lệnh triệu tập.

Xong rồi, y đi đốt hai cây đèn khí đã đặt lên cái bàn ở giữa nhà. Tên thiếu tá Sằng trở lại ngồi võng phì phèo điếu thuốc. Trời đã nhá nhem. Bấy giờ trước mắt hắn, đỉnh Hòn Đất mỗi lúc một sẫm đậm. Và đến khi bóng đêm đã thực sự đổ xuống, đỉnh Hòn vẫn không biến đi mà cứ hiện sờ sờ ra đó, khum khum như một chiếc mai rùa đen in nổi giữa nền trời đầu hôm nhuộm màu lam biếc.

Hồi sau, bọn sĩ quan lục tục kéo đến. Tên thiếu tá Sằng nhổm dậy:

- Tụi lính ra sao rồi, mấy anh?

- Cánh tôi bình thường!

- ở đại đội tôi tụi nó vẫn dục dặc, chửi rủa tới tối!

- Mẹ, lính ở cánh mấy anh làm kiểu đó lây qua tới bên tôi. Tụi nó cứ bàn tán hoài!

- Thôi được! ?; Tên Sằng cắt ngang, và đứng hẳn dậy.

Hắn đến ngồi ở cái ghế đặt đầu bàn, gõ ngón tay lóc cóc lên mặt bàn rồi báo cho tụi sĩ quan biết cái tin rút quân. Thằng nào nghe xong cũng cố nén nỗi mừng, cố nén để khỏi thở phào ra một cái. Tên Sằng nói thêm, giọng nhỏ lại:

- Lịnh trên biểu chậm gì thì trưa mai cũng phải về tới quận lỵ Tri Tôn. Cho nên chúng ra phải rút khỏi đây trước sáu giờ sáng. Mà phải rút thiệt êm. Nhớ giữ kín, đừng cho tụi lính biết trước, nghe không?

Tên Sằng dừng lại, búng khẩy tàn thuốc:

- Đó là việc chánh, còn một việc nữa rất quan trọng là trước khi rút, đêm nay chúng ra sẽ phá hang..

Bọn sĩ quan nghe nói thế liếc mắt ngó nhau. Tên Sằng biết chúng lo lắng, nên giảng giải:

- Bộ mấy anh tưởng phá banh cả hang hả? Không phải. Muốn phá banh cái hang đó phải đợi có bom nguyên tử mới phá nổi. Chúng ta hiện còn thuốc nổ hôm nọ đem xuống mà chưa xài. Đêm nay sẽ xài hết. Anh Tự đâu?

- Có tôi

- Đêm nay anh lo điều động đem mấy bọc thuốc nổ đó vô đánh hang. Còn thiếu úy Sanh, anh cho sửa soạn loa phóng thanh. Hễ vừa đánh miệng hang là anh loan tin khắp xóm cho dân chúng họ biết.

- Thưa thiếu tá, bất kỳ kết quả ra sao, chúng ta cũng loan tin?

Tên Sằng nói:

- Lẽ nào với bây nhiêu thuốc nổ đó mà không đem lại kết quả gì hay sao?

Tên trung úy công binh là Tự đáp:

- Miệng hang thì có thể phá sập. Nhưng Việt cộng nó không lắm, tôi e nó rút vô sâu như mấy lần trước thì cũng không ăn thua!

Tên Sằng chặt bàn tay xuống mặt bàn:

- Cứ đánh cho tôi!

Và hắn đứng bật dậy:

- Chúng ta cần có một tiếng vang trước khi rút khỏi chỗ này!

- Thiếu tá nói đúng, cần phải cho tụi nó biết là không phải mình yếu!

Một số tên trong đám sĩ quan ngụy hưởng ứng theo, đầy vẻ a dua. Chúng đứng dậy nói thêm vài câu chuyện với tên thiếu tá rồi lộc xộc kéo nhau ra khỏi ngôi nhà nền đúc.

Tên thiếu úy Tự và tên thiếu úy Sanh hãy còn ở lại. Tên Tự hỏi:

- Thưa thiếu tá, chừng nào khởi sự?

- Tùy anh, khởi sự chừng nào cũng được. Nhưng.. có lẽ để khuya khuya, thừa lúc tụi nó mệt mỏi buồn ngủ mà đánh thì hay hơn!

- Tôi cũng tính vậy.. Nhưng phải cho chuyển thuốc vô sớm!

- ờ phải, anh cho chuyển vô ngay bây giờ là vừa đừng đánh sớm mà cũng đừng để trễ. Đúng năm giờ sáng là rút quân anh tính sao thì tính. Có lẽ nên đánh lối mười hai giờ. Giấc đó tụi Việt cộng gác hang thế nào cũng có thằng ngủ gục..

Tên thiếu úy nói:

- Vậy đúng mười hai giờ tôi sẽ đánh!

Thiếu tá Sằng "ừ" rồi day sang tên thiếu úy Sanh dặn:

- Còn anh, giác đó đừng có ngủ quên nghe!

- Dạ tôi thức chứ đâu ngủ được. Loa phóng thanh tôi sẽ phát giữa đêm khuya. Tụi dân chúng chắc sẽ rụng rời khi nghe tin hang Hòn bị phá hủy. Gẫm ra cái phim chiếu đêm qua cũng không đến nỗi vô ích đâu thiếu tá!

Tên Sằng nhếch mép cười:

- Cái phim của anh thì ăn thua mẹ gì mà nhắc!

- Thưa thiếu tá, cái phim đó và những tiếng nổ dữ dội đêm nay khắn với nhau lắm chớ!

Tên Sằng cười lạt:

- Anh còn "nai" lắm. Đầu tôi đã mọc hai thứ tóc, tôi hiểu Việt cộng, hiểu dân chúng hơn anh nhiều mà. Cái giống họ khó bề lung lạc lắc. Anh tưởng khuya nay anh phát loa nói diệt hết tụi nó rồi dân chúng họ tin liền sao. Đâu có dễ vậy?.. Tôi đã nói, trước khi rút khỏi đây, chúng ta cần có một tiếng vang. Vậy thôi!

Tên thiếu úy Sanh còn rán hỏi:

- Một tiếng vang vô nghĩa sao?

- Sao lại vô nghĩa, anh thiệt là ngu..

Tên thiếu tá nói thế, và liền lúc đó hắn nghĩ ngay tới những điều mà hắn sắp sẵn để báo cáo lên cấp trên. Nhưng hắn chỉ chợt nghĩ tới thôi chớ không nói ra.

.. Tên trung úy Tự đã đi làm nhiệm vụ

Y không gặp một trở ngại nào trong việc điều động bọn lính vác những bọc thuốc nổ vào miệng hang. May mà những tên lính thuộc đơn vị của y chưa bị cơn lốc đấu tranh chống đối ban sáng cuốn theo. Chỉ có một sự rủi ro xảy ra sau cùng là lúc chúng vào sát miệng hang thì tên lính vác bộc phá bị vấp té đánh phịch một cái.

Do đó, tổ anh em gác ở miệng hang nghe thấy. Tổ này gồm có Trọng và hai anh du kích. Một anh tên Lến, còn anh kia tức là Hai Cá Trèn. Cả ba đều giật mình. Trọng nói:

- Cái gì giống như ai té?

- ừ, coi chừng tụi nó mò vô nghen!

Trọng chắn bàn tay, bấm đèn. Tại lỗ miệng hang vẫn như thường. Ngoài những miếng lựu đạn MK3 rải rác lúc nhúc như cứt trùng, tịnh không có gì khác. Trọng tắt đèn, Lến thì thào:

- Hồi nãy tổ của Tới gác thì êm rơ, có gì đâu?

Trọng bảo:

- Hồi nãy khác, bây giờ khác. Có khi xê xích một phút là thay đổi rồi, phải thủ kỹ mới được. Rõ ràng tôi nghe như có thằng nào vấp té!

Nói xong, Trọng nhích họng súng tôm-xông tới sát lỗ hang dặn:

- Băng đạn tôi chỉ còn chẵn mười viên. Hễ có chuyện tôi bắn vừa dứt thì mấy cha chém liền nghe. Thằng nào chun vô, cứ bình tĩnh bửa đầu nó cho tôi!

Hai anh du kích lăm lăm mã tấu trong tay:

- ừ, anh vắn hết đạn rồi cứ nánh qua một bên, để tụi tôi!

Ba người bàn với nhau như thế và sẵn sàng chờ đợi. Họ rún chân, đứng dợm trong bóng tối.

Mấy phút trôi qua, họ vẫn không thấy gì. Rồi cả mấy mươi phút sau, cũng không có gì xảy đến. Đứng riết mỏi chân họ ngồi xuống. Có tới một tiếng đồng hồ mà mọi sự vẫn bình yên. Hai Cá Trẽ nói:

- Hồi nãy chắc là chồn chạy!

- Chồn đâu ở đây. ?; Trọng thắc mắc

Hai Cá Trẽn cười, vẻ thông thạo:

- ở trên Hòn thiếu gì.. Anh ít ở đây nên không biết chứ các thứ chồn, khỉ, rắn hổ mây, không thiếu thứ chi.. Có cả con vích nữa, con vích lớn thì bằng cái nia, con nhỏ nhứt cũng cỡ thúng giạ.

- Chừng tan trận này về tụi mình kiếm vài con rắn hổ đất nấu cháo ăn chơi.

- Cha, thứ hổ đất bây giờ có hơi "khiếm khuyết". Đẻ ra con nào đều bị dân kiếm bắt sạch trơn. Anh ăn trăn không, con trăn lạt thua hổ đất xa, nhưng nếu mình không ham lột da bán lấy tiền, cứ để nguyên da nấu ca-ri thì ăn cũng đỡ ngặt lắm..

Hai Cá Trẽn bắt đầu nói thao thao. Anh ta thấy Trọng ưa chuyện, nên càng cao hứng:

- Anh biết con vích nó đẻ ra làm sao không?

Chẳng đợi Trọng đáp, Hai Cá Trèn nói tiếp: - Thứ đó đẻ ngộ lắm. Tháng nắng đi kiếm ăn ba đồng bảy đỗi ngoài biển, lúc trời gầm gừ muốn sa mưa nó mới bò về Hòn lo đẻ. Nó đẻ trứng bự bằng trái đu đủ, bươi đất thành hố, ủi lăn trứng xuống hố rồi lăn kềnh ra dùng mai nện láng lức. Xong rồi nó lại bỏ Hòn ra biển. Hễ trời mưa xuống là nở trứng nứt đất, vích con đội đất ngoi lên, lóp ngóp bò ra biển tự kiếm ăn..

- Ngộ quá ha! ?; Trọng kêu lên

Hai Cá Trèn gật đầu, thản nhiên:

- Còn nhiều thứ ngộ nữa chớ.. Giả tỷ như con nhím, ở Hòn đây cũng nhiều. Cái thứ này kỳ cục nhứt trên đời, nó vừa giống đực vừa giống cái..

- Sao?

- Nghĩa là nó tự ăn ngủ lấy, rồi có chứa, rồi đẻ..

- Cha, cha!

Hai Cá Trèn bảo:

-Hòn này có nhiều con thú quý lắm. Tôi tính tới chừng giải phóng miền Nam rồi tôi rủ người bạn ăn ý, lâu lâu đi săn bắt các loài thú trên Hòn cũng đủ hốt bạc!

Anh Lết hỏi xeo:

- Tới chừng đó rủ tôi đi không?

- Không, mày hay xạo sự quá, đi theo hư hết. Người săn thú phải có tánh ý, phải đàng hoàng..

Anh Lết cười ré, bảo Trọng:

- Anh ít về đây nên anh không biết danh thằng Hai Cá Trèn. Nó thấy anh lạ, nó đẩy dốc anh đó.. Chớ hồi cha mẹ tôi sanh tôi ra ở Hòn Đất tời giờ tôi có thấy nó bắt được một con nhen con sóc nào, chớ chưa nói tới chồn, khỉ, rùa, rắn chi cho mệt..

Hai Cá Trèn nín im một lát, đoạn nói:

- Ê Lến, vậy hôm rằm tháng bảy mày hay thằng nào vác mặt tới nhà tao ăn cháo rắn hổ đó?

- Con rắn đó thằng út đập cho mầy, mà mày dám nói là mày đào bắt, dóc quá, bữa đó có mặt vợ mày nên tao không nói, sợ mày mất mặt với vợ mày tội nghiệp..Vậy mà bây giờ mày còn khui ra!

Hai Cá Trèn cự:

- Thằng út nào đập, thằng út nào đập?

- Thằng út con chú Tư Râu chớ thằng út nào nữa. Nó có ở đây, để rồi tao kêu nó ra đối chất lo gì!

Hai Cá Trèn nín thinh. Trọng cười, nói vả lả cho anh ta đỡ ngượng:

- Cái gì chớ loài thú thì trên Hòn tôi tin chắc có nhiều:

Lến đáp:

- Có, thú thì có!

Vừa lúc ấy trong hang có tiếng chân đi ra. Hai Cá Trèn đứng dậy phủi đít bảo:

- Tổ anh Ngạn ra thay kia rồi. Thôi mình vô làm một giấc coi. Buồn ngủ quá!

Ngạn đã ra đến nơi. Cùng đi với anh có chú Tư Nghiệp và Quyên. Ngạn nói:

- Thôi anh em vô nghỉ, tới giờ rồi!

- Mười giờ hả? ?; Lến nói ?; Ngồi nghe Hai Cá Trèn nói dóc hết giờ hồi nào không hay!

Trọng nói với Ngạn:

- Tình hình không có gì. Cách đây độ một tiếng rưỡi tụi tôi có nghe một tiếng động bên ngoài, giống như ai vấp té phịch một cái..

- Vậy hả?

- Nhưng từ đó tới giờ thì vẫn êm không xảy ra chuyện chi.

-Nghe giống tiếng người vấp ngã à?

- Phải, nhưng cũng có thể là chồn chạy..

- Thôi được, đưa đèn pin cho tôi!

Ngạn ngồi xuống bấm đèn. Anh ngồi cách lỗ miệng hang chừng một thước, sau lưng anh là Quyên, rồi tới chú Tư Nghiệp. Ngạn dùng khẩu tôm-xông. Quyên nay giữ cây các-bin của Đạt. Riêng chú tư Nghiệp thì thủ cây đầu vuông cạnh của anh Ba Rèn mới đưa cho. Ngồi yên tại chỗ của mình, chú Tư Nghiệp moi thuốc ra vấn:

- Nhờ bà con bữa nọ tiếp tế nên bữa nay đâu còn mấy điếu. Tôi có để ý mấy chùm rán bay trên vách đá. Chừng nào hết thuốc, gỡ rán bay đó đem sấy hút cầm cự đỡ được.

Ngạn nói:

- Cái đêm đó.. thiệt là nhờ bà con lanh trí tiếp tế cho chớ không thì bữa nay mình nguy rồi. Thuốc chẳng có hút mà gạo cũng không có ăn, nghe vụ Cà Mỵ, Thiệt tội..

Sau câu nói của Ngạn, ba người đều im lặng. Hình như bên ngoài, trời bắt đầu nổi gió. Vì mọi người nghe gió lùa qua miệng hang mát cả chân. Đến lúc bên ngoài dậy lên tiếng rào rào, hu hú thì ai nấy biết là gió nổi thực sự rồi. Quyên có cảm giác biển mỗi lúc một ùa vào gần hơn. Cái âm ba rì rào ấy nay cứ mạnh mẽ lên dần, mạnh mẽ lên mãi. Rồi tiếng sóng dọi vào hang bắt đầu nghe rùng rùng như đổ.

- Biển lại động ?; Quyên khẽ kêu và chép miệng nói với Ngạn:

- Trời.. Không biết mấy bữa rầy ở ngoài ra sao.. Em lo quá. Em lo cho má quá.. Chị Ba chết.. má có chịu qua nổi không?

- Chắc má sẽ chịu nổi.. Nhưng tội nghiệp cho má. Phải nói là chị Ba hay em, má đều cưng hết, nhưng má cưng em cách bồng bột, còn với chị Ba thì má cưng cách đằm thắm. Có lần nghe má nói: ?;Dộu phải đợi mươi năm, con Sứ nó cũng đợi được.. Tao chỉ lo tới chừng đó tụi nó già hết rồi.."

Quyên nín im một lúc rồi thốt:

- Thiệt.. em là con nhỏ bộc tuệch bộc toạc chớ không được như chị Ba..

Chú tư chợt cười, ghé chuyện:

- út nè, tao hỏi thiệt bây cái này, trả lời thử tao nghen?

Chú tư hỏi chi?

Chú Tư Nghiệp rít thêm hơi thuốc nữa, giụi tắt cái tàn thuốc:

- Nói con Sứ dám đợi thì tao tin.. Còn giả dụ như bây giờ Đảng xuống lệnh điều chú Ngạn đi công tác xa chừng mươi, hai mươi năm thì con út bây tính sao?

- Đâu có chuyện đi biệt luôn như vậy! ?; Quyên bảo

- ấy, nói giả dụ như vậy mà!

Quyên nín thinh

Chú Tư Nghiệp giục:

-Sao? Nói tao nghe coi?

Quyên chợt ngây mặt ra trong bóng tôi. Cô nghĩ: "ồ chuyện mình ít nghĩ tới thiệt đó!" Song cô thốt rất nhanh:

- Cháu không đợi! ?; Rồi cô bụm miệng cười

Chú Tư Nghiệp bảo:

- Đó, chú Ngạn nghe con Quyên nó nói chưa?

- Nghe chứ!

Và Ngạn cố lấy giọng mỉa mai:

- Cháu biết mà, cháu đâu có nước non gì mà người ta đợi

.. Thường Quyên và anh gắn bó với nhau không phải ở cảnh thoải mái vui chơi như người khác mà là trong hầm, trong cứ, và giờ đây trong hang mỗi một phút một giây đều căng thẳng, sôi sục, thiêng liêng. Giờ đây thấy mình có được sự kề vai sát cánh đầy đủ quá, từ đồng chí, đồng đội, từ Quyên..

Anh vừa chợt nghe có tiếng gì sột soạt rất khẽ, như là gió thổi đùa lá vào lỗ hang. Tức khắc, anh bấm đèn "pin" chiếu xuống lỗ miệng hang, rọi cho ba người trông thấy một cái bọc vải mầu xám vuông dài buộc thắt nhiều đường dây đang nhủi vào. Có một ngọn sào tre ở phía sau chỏi cái bọc đó. Và ở mép bọc, một sợi dây mồi đang ngoe nguẩy cháy ngún, xịt khói. Cả Ngạn, Quyên và chú Tư Nghiệp trố mắt kinh sợ nhìn cái mồi cháy rồn nhanh vào. Ngọn sào vừa đẩy gói bộc phá quá khỏi lỗ miệng hang, liền rụt lại. Ngạn cầm đèn và súng chưa kịp xoay xở ra sao thì Quyên đã để khẩu cac-bin xuống, nhảy chồm tới. Cô chụp đại gói bộc phá liệng trở ra khỏi lỗ hang. Khi cô lăn mình lùi lại, nằm rạp xuống, thì Ngạn đưa cánh tay đỡ lấy ngực cô. Bộc phá nổ một tiếng lớn. Đất đai hang động như bưng lên hết. Ba người bị nhấc khỏi mặt đất, rồi rớt xuống. Quyên nhờ Ngạn nâng ngực nên không bị dội tức. Cô còn tỉnh trí, quờ tay chụp lấy khẩu "cac-bin". Ngạn vội thét:

- Vô trong mau!

Anh bấm đèn rọi cho Quyên và chú Tư Nghiệp chạy trước. Rồi anh luồn theo. Vào tới ngách hang trong, ba người đứng lại. Chú Tư Nghiệp ngồi xổm, thở hổn hển:

- Thiếu chút nữa ba đứa mình biến thành bụi hết rồi! Mẹ, sợi dây mồi cháy coi thiệt ớn!

Anh em từ trong hang đổ xô ra. Anh Hai Thép hỏi:

- Ngạn đâu? Anh em có sao không?

- Tôi đây anh, không sao.. Nó chuồi bộc phá vô, tụi tôi phát hiện kịp, Quyên ôm vụt gói bộc phá ra ngoài!

- Biết thế nào nó cũng "chơi" thuốc nổ mà!

Anh Hai Thép rọi đèn ra miệng hang. Không thấy có gì, anh bảo:

- Thôi cứ tránh ở đây.. Đề phòng đanh tụi đột nhập. Ba Rèn đâu?

- Có tôi

- Tổ anh cũng lo giữ ở đây!

- Đồng ý!

Anh Ba Rèn bước tới. Anh mò kiếm chú Tư Nghiệp, rờ rẫm khắp người chú, cười hà hà:

- May quá, ông già còn nguyên ta!

Đoạn anh lần tay chú Tư, rón lấy cây dầu vuông:

- Thôi, đưa cái cây cho tôi, ông vô nghỉ!

Giữa lúc đó ngoài miệng hang lại nổ ầm một tiếng. Mọi người đang đứng dự dưng bị xốc nhớm gót lên. Đá bụi tung rào rào. Bọn địch đã đánh tiếp bộc phá thứ hai. Luồng ánh sáng rọi cho mọi người thấy một vầng khói đen xạm, dày đặc. Khắp hang rung rinh mãi hồi lâu vẫn còn nghe thấy tiếng kêu răng rắc như đá đang bị nứt. Anh Hai Thép nói:

- Tôi rọi đèn, anh em tất cả súng lên vai, chú ý theo dõi thằng nào lọt vô đây diệt ngay thằng đó!

Ngạn gác khẩu tôm-xông lên một mỏn đá. Anh chỉ cho Quyên một mỏm đá kế đó. Quyên đặt khẩu các-bin lên từ từ áp báng vào vai. Anh em khác cũng ghìm súng đợi. ánh đèn pin từ tay anh Hai Thép vẫn rọi thẳng ra hang. Quyên nhìn thấy trước mũi súng của mình, vầng khói tản ra và bức tường mất biến một nửa. Một nửa còn lại chỉ là đống gạch vụn lổn nhổn. ánh đèn pin bỗng vụt tắt. Một giây sau, khi anh Hai Thép chiếu đèn trở lại thì trong quầng ánh sáng của đèn xuất hiện rõ một thằng địch đang ôm thu lu gói bộc phá nhảy qua chỗ gạch vụn.. Ba bốn phát súng nổ vang lên cùng một lúc.

Thằng địch đứng sứng, buông gói bộc phá rớt xuống. Nó khuỵu tại chỗ, nghẻo đầu, mà hai tay vẫn ôm vòng cái gói có sợi dây ngòi đang cháy ngún. Quyên mở miệng kêu "á" lên một tiếng. Cô vừa nép vào ngách hang thì bộc phá nổ ầm.

Anh Hai Thép bấm đèn rọi ra. Miệng hang lần này cũng dày đặc khói đen như lần trước. Lúc khói tan, không trông thấy thằng địch đâu nữa. Hai bên vách, đá tuông đổ rào rào. ở trên miệng hang bị phá rộng toác, còn bên dưới đá gạch vụt đùn lên.

ánh đèn pin từ tay anh Hai Thép vẫn chiếu sáng rực. Anh em vẫn ghìm súng đợi, hy vọng sẽ cho tái diễn cái cảnh ấy lại lần nữa. Nhưng một phút trôi qua. Rồi năm phút. Mỗi mãi đến khi ánh đèn pin lu đi cũng không thấy tên địch nào ôm bộc phá nhảy vô kiểu đó nữa.

Đợi quá lâu, anh Hai Thép tắt đèn. Nhưng không yên tâm, anh lại bấm đèn lên. Cứ bấm cứ tắt mấy lượt, vẫn không thấy gì.

- Chắc nó rút rồi ?; anh Ba Rèn nói

Chú Tư Nghiệp ngăn:

- Khoan! Cứ rọi đèn. Trăng gần mọc rồi!

Bên ngoài gió vẫn dậy ào ào. Đôi lúc gió lùa qua miệng hang sụp lở, kêu hu hú. Và sóng biển vẫn rùng rùng như tiếng trống chầu đổ hồi, không dứt .

Các tay súng vẫn giữ nguyên tư thế sẵn sàng nhả đạn. Quyên sốt ruột vì ánh đèn pin khi nhá sáng, khi tắt ngấm. Ngón tay trỏ của cô đặt nơi cò súng thả ra, co vào không biết mấy lượt. Nhưng mắt cô lúc nào cũng mở to trố nhìn cái miệng hang chợt sáng chợt tối ấy. Thế rồi một lát sau, khi ánh đèn tắt khá lâu Quyên vẫn nhận ra miệng hang. Đúng như chú Tư Nghiệp nói, trăng đã lên. Miệng hang không tối như trước nữa. ở đó, bóng tối ngả sang mầu xanh sẫm, nhợt thêm một chút, rồi rạng biếc.

Quyên đã có thể phân biệt rõ đống gạch đen lù lổn nhổn kia với ánh trăng sáng hửng miệng hang.

Anh Hai Thép thôi không rọi đèn nữa.

Anh phân công Ba Rèn ở lại gác như bình thường và cho anh em vào nghỉ. Quãng đêm còn lại ấy trôi qua một cách yên tĩnh, yên tĩnh hơn cả những đêm hôm trước. Bộc phá không còn gầm lên, và anh em cũng chẳng nghe thấy tiếng súng bắn "bóc đùng" ở ngoài xóm như mọi đêm.

Tổ gác miệng hang đã trở ra ngồi gác sau đống gạch vụn.

Người tổ trưởng phiên gác cuối cùng là anh Hai Thép, lần đầu tiên nhìn thấy ánh bình minh được nới rộng hơn trước, qua cái miệng hang vừa bị thuốc nổ công phá hồi đêm. Khi anh kêu: ?;sáng rồi!" thì lúc đây đêm đã nhợt dần, nhòa đi. Biển cũng đã lặng. Anh nghe thấy tiếng chim kêu ríu rít. Rồi anh bắt đầu nhận ra những ngọn cỏ ngoài hang ươn ướt hơi sương. ánh gnày mát rợi và dịu dàng lướt trên những ngọn cỏ đó, lan ra mãi. Bây giờ thì anh lại nhìn thấy bãi cỏ bị nhiều dấu giày xéo nát, và anh giật mình thấy anh ngay trước mặt có một khúc chân bê bết máu. Anh nói với anh em du kích cùng tổ:

- Chắc của thằng hồi hôm!

Lúc đó anh nghe sau lưng có tiếng cười hì hí.

Anh quay lại. Thì ra thằng út mới ngủ dậy, mò ra. Nó vừa giụi ghèn xong, hai tay vịn gối chân đừng rùn rùn, trố mắt nhìn cái khúc cẳng. Thằng út lè lưỡi nói:

- Coi lớn quá hên chú Hai?

- ừ, nó lãnh nguyên bao bộc phá mà vừa gì! Còn được cái cườm cẳng đó là may..

Anh Hai Thép hỏi:

- Hồi đêm hôm tụi nó đánh hang, mày hay không út?

Thằng út không đáp. Nó đang lo nhìn cái gì ở ngoài, người nhổm tới.

- Chắc là lúc đó mày ngủ khò chứ hay biết cái gì hả út? ?; Anh Hai Thép lại hỏi.

Thằng út vẫn lo nhướn mắt nhìn. Bỗng nó lào thào:

- Trời ơi.. tụi nó, tụi nó vố

Nó vụt trỏ tay ra phía ven vườn:

- Kìa kìa, tụi nó kéo đến nghẹt kia kìa, chú Hai ơi!

- Đâu, đâu?

Theo ngón tay thằng út, anh Hai Thép thấy quả có một đám lính kéo tới rất đông. Hình như chúng đang chạy tới. Anh thét:

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn