Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20

Vũ Cao

NHÀ THƠ VŨ CAO

 

Tiểu sử:

Tên thật: Vũ Hữu Chỉnh

Sinh năm: 1922

Bút danh: Vũ Cao

Nơi sinh: Vụ Bản-Nam Định

Thể loại: thơ, truyện ngắn

Các tác phẩm:

ê      Sớm nay (1962)

ê      Đèo trúc (1973)

ê      Núi đôi (1990)

ê      Truyện một người bị bắt (1958)

ê      Những người cùng làng (1959)

ê      Em bé bên bờ sông Lai Vu (1960)

ê      Anh em anh chàng Lược (1965)

ê      Từ một trận địa (1973).

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Núi Đôi

 

Bảy năm về trước em mười bảy

Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng

Xuân Dục Đoài, Đông hai cánh lúa

Bữa thì anh tới, bữa anh sang.

 

Lối ta đi giữa hai sườn núi

Đôi ngọn nên làng gọi là Núi Đôi

Em vẫn đùa anh: Sao khéo thế

Núi chồng núi vợ đứng song đôi.

 

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới

Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau

Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn

Đâu ngờ từ đó mất tin nhau.

 

Anh vào bộ đội lên đông bắc

Chiến đấu quên mình năm lại năm

Mỗi bận dân công về lại hỏi

Ai người Xuân Dục, Núi Đôi chăng?

 

Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi

Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi

Mỗi tin súng nổ vùng đai địch

Sương trắng người đi lại nhớ người.

 

Đồng đội có nhau thường nhắc nhở

Trung du làng nước vẫn chờ trông

Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm

Em vẫn đi về những bến sông?

 

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại

Lệnh trên ngừng bắn, anh về xuôi

Hành quân qua tắt đường sang huyện

Anh ghé thăm nhà, thăm Núi Đôi.


Mới đến đầu ao, tin sét đánh

Giặc giết em rồi, dưới gốc thông

Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa

Em sống trung thành, chết thuỷ chung,

 

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi

Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen

Nắng lụi bỗng đưng mờ bóng khói

Núi vẫn đôi mà anh mất em!

 

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo

Em còn trẻ lắm, nhất làng trong

Mấy năm cô ấy làm du kích

Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

 

Từ núi qua thôn đường nghẽn lối

Xuân Dục Đoài, Đông cỏ ngút đầy

Sân biến thành ao, nhà đổ chái

Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay.

 

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất

Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau

Nứa gianh nửa mái lều che tạm

Sương nắng khuây dần chuyện xót đau.

 

Anh nghe có tiếng người qua chợ:

Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều

Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc

Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu!

 

Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ

Oán thù còn đó, anh còn đây

Ở đây cô gái làng Xuân Dục

Đã chết vì dân giữa đất này?

 

Ai viết tên em thành liệt sĩ

Bên những hàng bia trắng giữa đồng

Nhớ nhau anh gọi: em, đồng chí

Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

 

Anh đi bộ đội, sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

1956

 

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Giáo dục, 2005