Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20

Trần Huyền Trân

NHÀ THƠ TRẦN HUYỀN TRÂN

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Đình Kim

Sinh năm: 1913

Mất năm: 1989

Nơi sinh: Hà Nội

Bút danh: Trần Huyền Trân, Trần Kim, Đỗ Quyên

Thể loại: thơ, kịch, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

ê      Sau ánh sáng (1940)

ê      Bóng người trên gác binh (1940)

ê      Tấm lòng người kỹ nữ (1941)

ê      Người ngàn thu cũ (1942)

ê      Phá xiềng

ê      19-8

ê      Rau tần (1986).    >> Chi tiết

ê      Chim lồng.

ê      Lẽ sống

ê      Lên đường.

ê      Tú Uyên Giáng Kiều

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Độc hành ca

 

Ớ kìa thiên hạ đang say

Ớ nghìn tay nắm nghìn tay đang cười

Nhớ ngươi nhạt thếch rượu đời

Tay vo chỏm tóc ta ngồi ta ca

Tình tang lỗi nhịp mình ta

Thương về đầu bạc xót ra má hồng

Đèn chong ai vợ không chồng

Võng đưa ai mẹ bế bồng không con

Nằm đây thép rỉ son mòn

Cái đi mất mát, cái còn lần khân

Cúi đầu bóng rét vương chân

Ngẩng lên đã đụng giời xuân trên cành

Không vui sâu cỏ không đành

Mà cười nghe chửa ngon lành trái mơ

Đã toan ném bút vùi thơ

Thõng buông tay áo sợ dơ dáng đời

Trót thừa ừ ngược, ừ xuôi

Chút thân tâm sự ra người hát ngao.

Giao tình tợp chén chiêm bao

Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp chân

Đây người áo đỏ tầm xuân

Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan

Không dưng rét cả dây đàn

Này cung dâng áo ngự hàn là đây.

Nhớ xưa cùng dỗ bụi giầy

Vỗ đùi ha hả thơ mày rượu tao

Say đời nhắm lẫn chiêm bao

Thơ ra miệng dại, rượu vào mắt điên

Đầu bồng khí núi đang lên

Sá gì bóng tối đắp trên thân còm

Gặp thời xô xát nước non

Ta trôi ngươi trẩy lòng còn ngó theo

Đưa nhau qua bữa cơm nghèo

Đứa sầu gào rượu đứa nheo mắt cười

Vung tay như vạch ngang giời

Bảo rằng đâu nữa cái thời ngất ngư

Chén mồi dù hắt ưu tư

Sao cho ráo được gió mưa lội lầm

Cõi ngoài trăm họ muôn dân

Sống trong rau cỏ vẫn thầm khóc than

Sao ta lì mãi ruột gan

Đời ai mắt sáng hơn vàng mà mong

Chẳng nghe đỏ khé sông Hồng

Sóng ngàn xưa vẫn động lòng ngàn sau

Chẳng nhìn bóng đá thâu thâu

Non Lam như kẻ gục đầu còn thương

Chẳng hoài thóc giống vất vương

Giếng khô lấp mạch cây vườn rụi hoa

Trách nào trái rụng hương xa

Cốt muôn trẻ đắp muôn già càng cao

Mồ hôi làm suối chiêm bao

Nguồn sinh vô lượng đổ vào vô biên

Lũ mình rấp hận thành điên

Cái câm thuở ấy cười lên thủa này

Thế rồi thí bỏ rủi may

Đứa giam cõi bụi, đứa đày rừng sâu

Vai cầy chẳng kẻo làm trâu

Dong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm

Nẻo về chật chội áo cơm

Dặm đi lại động từng cơn lá rừng

Lòng ta không sóng không đừng

Thơ vang lại vướng mấy tầng cửa quan

Ngẩng thì núi quấn mây tan

Kìa đông lửa cháy kìa nam khói mù

Kìa trời kia cũng ưu tư

Kìa kìa đất nọ ngắc ngư lạc đường

Nhà ta nào thiếu gì thương

Mà ta ngăn ngắt như giường bệnh nhân

Thuốc nào chữa nổi tà tâm

Bao mồi danh lợi ghìm chân sông hồ

Tóc xanh như cỏ trên mồ

Đời hoang chôn cả xuân thu một thời

Chao ôi! đâu xóm nô cười

Trẻ no vú sữa, già ngơi tiệc trà

Tự tình trai gái như hoa

Nằm trong vàng ngọc bước ra áo quần

Lầu cao đời rủ rèm xuân

Ấm no ngồn ngộn mấy tầng vô tư

Biết gì đến giấc chinh phu

Đêm mơ ngọc đá lầm tro giật mình

Tay xua bóng dáng gia đình

Mà thân lơ láo thế tình càng đau

Đời xanh khó ngả màu nâu

Mắt hào quang vẫn đục ngầu như say

Nghêu ngao cho sập bóng ngày

Khề khà cho ráo hận đầy từng hơi

Chiều nay nhấc chén lên môi

Không dưng tưởng nhắp máu người tanh tanh

Khóc nhau ném chén tan tành

Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ

 

Cố nhân! Ới hỡi người xưa

Dọn đi tâm sự. Đây mưa về rừng!

1940 

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1999