Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20

Trần Dần

NHÀ THƠ TRẦN DẦN

(1926 - 1997)

 

Tiểu sử:

Tên thật: Trần Văn Dần

Bút danh: Trần Dần

Nơi sinh: Nam Định

Thể loại: thơ, tiểu thuyết, văn học dịch.

Các tác phẩm:

ê      Người người lớp lớp (1954)

ê      Nhất định thắng (1956)

ê      Cách mạng tháng Tám (1989)

ê      Bài thơ Việt Bắc (1990)

ê      Cổng tỉnh (1994)

ê        Những người chân đất

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

Bài thơ Việt Bắc

(Trích)

 

Chương I

 

Đây!

Việt Bắc!

Sông Lô nước xanh

tròng trành mảnh nguyệt

Bình Ca sương xuống

lạc con đò!

Đáy dạ thời gian còn đọng

những tên

Như

Nà Phạc

Phủ Thông

Đèo Thùng

Khâu Vác

Tôi nhớ

đồn Róm khi xưa

nơi ta ngã xuống

Trời sao ấp ủ!...

Đây khe suối cạn

nơi bạn ta nằm.

Chắc hẳn

khu A.T.K

beo gầm cỏ rậm

Bản xưa

chim chóc

phục hồi chưa?

Người khách đến!

Thuyền lên bến lạ.

Mải vui sương núi

trăng ghềnh

Tìm đâu

dấu vết ngày xưa?

Đâu

bom đạn tội tình

thuở ấy?

Rừng chẳng nói

lá rơi vàng võ!

Thác

bạc phơ đầu

mài gọt

đá xanh!

Nhưng hãy tin

nhiều đêm

bên bếp lửa,

Lũ trẻ đầu xanh

nghe

chuyện người xưa,

Cũng

mê mải

như ta

nghe cổ tích!...

Ở đây

ta đã long đong

chín mùa xuân sạm lửa,

Đạn

như ruồi

bâu kín

gót chân đi!

Ở đây

lên bắc

lại

về đông

Vò võ

chân trời

khẩu súng

Mỗi đêm

từ biệt

một quê hương!

Ở đây

ta dấy nghiệp

nhọc nhằn

Hai tay trắng

mưu cơ

tần tảo

Mới làm nên

đất nước bây giờ.

Chính

chiếc nôi Việt Bắc

bế bồng ta

Qua

tất cả

tháng năm đầy lửa,

Nuôi ta

nuôi cách mạng

lớn khôn.

Ta bầu bạn

củ khoai môn

nương sắn

Bạn

con chim mất ngủ

rừng già.

Bạn

sông Đà

sông Mã

chở đầy sao

Bạn hang núi

lá vàng rơi

khắc khoải.

Ở đây

muối mặn ta kiêng

thương xót

đời con khát nước

Tương lai

ta thắt bụng

vì mày!

Ta đã nhịn

như

người lính nhịn.

Nhịn mùa xuân

lại đến

nhịn mùa đông

Nhịn điếu thuốc

nhịn từng vuông vải

Nhịn no

nhịn ấm

nhịn tình yêu!

Ở đây

mây sớm

quấn

sương chiều,

Đầu bản

hùm kêu

khản giọng

Đạn bom

chầu chực

bốn bên nhà.

Ta sống

giữa

bản hùng ca nguy hiểm.

Ở đây

manh áo vải

chung nhau.

Giấc ngủ

cùng chung

chiếu đất.

Hành quân

chung

khói bụi đường trường

Con muỗi độc

chung nhau

cơn sốt.

Chiến trường

chung

dầu dãi đạn bom.

Tới khi ngã

lại chung nhau

đất mẹ.       

Hãy chia sẻ cho nhau

gió bấc!

Chia

mưa phùn

nước lũ

cơm thiu.

Để đến lúc

mắc trùng vây địch,

Lại chia nhau

những thỏi đạn

cuối cùng.

Ở đây

ta mắc nợ

núi rừng.

Một món nợ

khó bề trang trải.

Việt Bắc

cho ta vay

địa thế!

Vay từ

bó củi

nắm tên.

Vay từ

những hang sâu

núi hiểm.

Cả

trám bùi

măng đắng

đã nuôi ta.

Ta mắc nợ

những rừng sim bát ngát.

Nợ

bản mường heo hút

chiều sương.

Nợ củ khoai môn

nợ chim muông

nương rẫy.

Nợ

tre vầu

bưng bít

rừng sâu.

Nợ con suối

dù trong

dù đục,

Nợ

những người

đã ngã

không tên!

Ôi

thế kỉ muôn quên ngàn nhớ!

Nợ này

đâu dễ trả

mà quên!

Đi!

Tất cả!

Dù quen tay vỗ nợ,

cũng chớ bao giờ

vỗ nợ

nhân dân!

 

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Giáo dục, 2005