Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20

Hùng Đình Quý

NHÀ THƠ HÙNG ĐÌNH QUÝ

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Hùng Đình Quý

Sinh năm: 1938

Nơi sinh: Quản Bạ - Hà Giang

Bút danh: Shôngx Ntiêx-tuôv

Thể loại: Thơ

Các tác phẩm:

ê    Người HMông nhớ Bác Hồ (1991)

ê    Đợi chờ

ê    Nhớ Bác Hồ

ê    Vợ lẽ

ê    Dân ca HMông - Hà Giang

ê    Nếu sai tôi sẽ chết không nhắm mắt

ê    Chỉ vì quá yêu

Giải thưởng văn chương:

Giới thiệu một tác phẩm:

 

Hùng Đình Quý - Người HMông nhớ Bác Hồ

(Bài Nhận định của Nguyễn Thị Hồng)

 

Dân tộc nào muốn tồn tại lâu dài cũng phải vừa đứng vững hai chân trên mặt đất, vừa để cho lời ca của mình bay bổng với bầu trời. Người HMông cũng vậy. Sống ở những nơi cao nhất, xa nhất, heo hút nhất, chỉ gần với thiên nhiên hoang vu. Vậy mà dân tộc HMông lại có tâm hồn thật lãng mạn, bay bổng. Điệu khèn HMông vời vợi cùng những làn điệu dân ca Lu Chìa, Phìa Pha, Lú Tẩu, những truyện cổ dân gian HMông đã chứng minh cho tâm hồn giàu chất nghệ sĩ của dân tộc này. Vì vậy, khi đọc tập thơ Người HMông nhớ Bác Hồ của nhà thơ Hùng Đình Quý, ta nhận thấy nhà thơ đã phản ánh được phần nào đời sống thường nhật cùng đời sống nội tâm và tâm hồn nghệ sĩ của dân tộc mình.

Đấy là tập thơ, song ngữ, bản tiếng Việt do tác giả tự dịch từ tiếng mẹ đẻ (tiếng HMông). Hẳn so với nguyên bản, chất thơ của bản dịch tiếng Việt đã bị hạn chế nhiều. Dù vậy, ta vẫn thấy được những câu thơ như những viên đá qúy nằm trong vỉa quặng lộ thiên.

Bài Nhớ Bác Hồ, chỉ qua đôi câu, ta thấy cả tấm lòng người HMông với Bác. Họ đã coi Bác Hồ như người HMông vậy:

"Bác Hồ đi

Đời đời yên nằm cùng núi đất

Kiếp kiếp yên nghỉ cùng núi đá"

Người HMông khi chết, họ yên nghỉ cùng núi đất, núi đá. Qua những vần thơ trên, tác giả đã thay mặt người HMông đón linh hồn Bác Hồ về yên nghỉ ngàn thu tại quê hương mình. Còn sự bất tử nào hơn khi được đi vào đời sống tâm linh của một dân tộc!

Bài vợ lẽ những động từ "lau" và "chùi" bản thân nó không có chất thơ, thậm chí, về nghĩa đen, đó là động từ chỉ những động tác cọ xát đối với những đồ vật dơ bẩn. Vậy mà tác giả đặt nó vào văn cảnh này, lại gợi cho người đọc một nhận thức thẩm mỹ trực diện, ví như ánh đèn pha trong đêm, soi rõ hai luồng đường tối, sáng, cho người đi đường phân biệt.

Bài đợi chờ, như lời Nhà xuất bản giới thiệu, đó là cuộc đời của tác giả, là nỗi lòng của tác giả đối với quê hương, đất nước thấm đậm chất dân ca trữ tình của dân tộc HMông.

Hai người yêu phải tạm xa nhau, họ không nói đến từ "đợi chờ", "chung thủy", nhưng hãy nghe họ dặn dò nhau:

"Em gầu HMông

Nếu em nhớ dài, anh nhớ lâu

Thì cho dù hang ra hoa, đá ra quả

Cũng chẳng ai tách rời được ta đâu

Nếu em nhớ đầy, anh nhớ đủ

Thì cho dù đá ra quả, hang ra hoa

Cũng chẳng ai tách rời hai ta được".

Tác giả đã dùng lối nói ẩn dụ đi từ cái phi ly để đến cái có lý. Hang và đá làm sao ra hoa ra quả được. Vậy mà dù có chuyện ngược đời ấy, họ cũng vẫn thuộc về nhau nếu họ còn nhớ đến nhau. Thì ra "cao ngàn cao vạn, cao nhất lòng người" là thế. Cách ví von thật dễ hiểu mà ý tứ thật sâu xa, gần gũi với đời sống người HMông. Nhà ai không phải "giần giần bột" và "sàng sàng gạo" hàng ngày. Nhưng sinh hoạt bình thường có tính chất thực tiễn đó, tác giả đặt vào văn cảnh của đoạn thơ  trên để tả nỗi sung sướng của hai người yêu xa cách gặp lại, lại thật hợp và gợi cho ta xúc cảm tình cảm và xúc cảm thẩm mỹ ngoài ngôn ngữ. Nó biểu hiện một cảm giác hạnh phúc dào dạt mà ấm êm, dần dần dâng trào đến viên mãn.

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Hội nhà văn - 2002