Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20

Chế Lan Viên

NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN

 

Tiểu sử:

Tên thật: Phan Ngọc Hoan

Sinh năm: 1920

Mất năm: 1989

Nơi sinh: Cam Lộ - Quảng Trị

Bút danh: Chế Lan Viên, Chàng Văn

Thể loại: Thơ, tiểu luận phê bình, ký

Các tác phẩm:

  ê Điêu tàn (1937)   >> Chi tiết
  ê Gửi các anh (1955)   >> Chi tiết  
  ê Ánh sáng và phù sa (1960)   >> Chi tiết  
  ê Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967)   >> Chi tiết  
  ê Những bài thơ đánh giặc (1972)   >> Chi tiết  
  ê Đối thoại mới (1973)   >> Chi tiết  
  ê Hái theo mùa (1977)   >> Chi tiết  
  ê Hoa trên đá (1985)  
  ê Tuyển tập Chế Lan Viên (2 tập, 1985)  
  ê Di cảo I - II (1994- 1995)  
  ê Vàng sao (1942)  
  ê Phê bình văn học (1962)  
  ê Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981)  
  ê Sau điêu tàn   >> Chi tiết  
  ê Hoa trước lăng Người   >> Chi tiết  

Giải thưởng văn chương:

ê     Giải thưởng Hồ Chí Minh  về văn học nghệ thuật (đợt I) 1996

Giới thiệu một tác phẩm:

Tiếng hát con tàu

 

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hoá những con tàu

Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu.

 

Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?

Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

 

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép

Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.

 

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc

Xứ thiêng liêng, rừng núi đã anh hùng

Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất

Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân.

 

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường

Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.

 

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón riêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

 

Con nhớ anh con, người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con.

 

Con nhớ em con, thằng em liên lạc

Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ

Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc

Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư.

 

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài

Con với mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trọn đòi con nhớ mãi ơn nuôi.

 

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn


Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương.

 

Anh nắm tây em cuối mùa chiến dịch

Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bựa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương

 

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?

Tình em đang mong tình mẹ đang chờ

Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội

Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga.

 

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng

Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào

Rẽ người mà đi vịn tay mà đến

Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao.

 

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ

Tây Bắc ơi, ngươi là mẹ của hồn thơ

Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa

Nay trở về, ta lấy lại vàng ta.

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 1960