Sách » Việt Nam » Bình Định

Trả lại trong sáng cho Ngọc Hân - Nguyễn An Phong

          Một dịp hết sức tình cờ đã trở thành động lực chính thúc bách tôi phải viết bài này: Trong đêm 26-6-1996 "đêm thắp nến cho thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam", tại khuôn viên toà thị chính Westminter tôi gặp lại Mỹ Thơ, một cô nữ sinh cũ của trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân – Mỹ Tho. Sau vài câu xã giao, thứ đến là những chuyện trường cũ, tình xưa .v.v... và rồi thì câu chuyện lại chuyển sang đề tài về một bài báo cách đó mấy tháng đã viết với nội dung là: năm 1801 sau khi chiếm Phú Xuân vua Gia Long đã lấy bà Ngọc Hân công chúa làm vợ. Mỹ Thơ cho rằng đây là một điều làm sỉ nhục đến người xưa và nhất là những cựu nữ sinh trường Lê Ngọc Hân.

          Nếu chỉ đặt mình trong một cương vị hết sức bình thường của một người chưa bao giờ bước chân đến trường và cũng chưa một lần nào học qua lịch sử Việt Nam, hoặc giả là một người sinh ra và lớn lên ở hải ngoại thì chắc chắn không có điều gì đáng nói cả. Nhưng tôi cũng đã bước chân đến trường và cũng đã học qua lịch sử nước nhà, nhất là tôi đã sinh ra và lớn lên ở Bình Định, quê hương của vị anh hùng dân tộc: Ðại đế Quang Trung. Thật tình mà nói tôi chưa đọc được tài liệu lịch sử nào, đã ghi rằng vua Gia Long lấy Ngọc Hân công chúa và sinh hạ ra hai hoàng tử là Quảng Oai và Thường Tín, mà chỉ đọc được một tài liệu đã ghi rằng, em ruột của bà Ngọc Hân là công chúa Ngọc Bình đã lấy vua Gia Long và sinh hạ được hai người con. Phải chăng vua Quang Trung và vua Gia Long là hai anh em bạn rể? Có dịp tôi sẽ trình bày đề tài thích thú này trong một bài khác.

          Dưới thời Tây Sơn có hai người đàn bà tài danh đã nối gót tiền nhân, làm rạng rỡ truyền thống phụ nữ Việt Nam, đó là nữ tướng Bùi Thị Xuân của đất Tây Sơn Bình Định và Ngọc Hân công chúa của đất Thăng Long. Nhưng cuối cùng, khi Gia Long với tư cách là kẻ chiến thắng, đã trả thù hai bà và gia đình một cách dã man và hèn hạ, nên đã để lại cho người đời sau không ít những hệ quả, bi thảm và sâu đậm rất khó quên. Họ vẽ vời thêm những câu ca dao, một số sấm ký và một số truyền thuyết, có mục đích tuyên truyền chính trị, và bôi nhọ Bắc cung Hoàng hậu của Quang Trung Ðại Đế. Rồi họ thi vị hóa và hiện thực hóa truyền thuyết thành một trang tình sử đầy bi hùng, có thứ tự, có lớp lang giữa Ngọc Hân công chúa và vua Gia Long, cho nên rất được nhiều người ưa nghe, và rồi cũng rất nhiều sách vở biên chép. Trong số đó có bài viết của ông Phạm Việt Thường đăng trong tập san "Ðô Thành Hiếu cổ" đã xuất bản ở Huế vào năm 1941 với tựa đề là: "Sự trớ trêu của ông Tơ, bà Nguyệt hay duyên số kỳ lạ của Ngọc Hân Công Chúa". Bằng mọi cách để cố tạo nên sự chú ý của độc giả, tác giả đã không ngần ngại dùng bút pháp tiểu thuyết hóa câu chuyện:

Một đêm dưới ánh trăng lờ mờ của ngọn đèn ở trong một căn phòng âm u, Ngọc Hân thấy một người đàn ông tráng kiện và uy nghi, chậm chạp tiến về phía mình rồi cúi chào, Ngọc Hân run lên và đánh liều hỏi:

- Này võ tướng Nguyễn quân, người muốn gì ở ta?

Người kia cười và đáp:

- Không can chi mô, bà đừng sợ, võ tướng Nguyễn quân cũng là một người mà có lẽ còn nhân từ hơn cả một võ tướng Tây Sơn.

Thấy Ngọc Hân im lặng, người bí mật nói tiếp:

- Thưa Hoàng hậu, dù việc xảy ra như thế nào thì cung điện này cũng vẫn là của bà.

- Nhưng thưa tướng quân, đối với tôi cung điện này còn là một nhà tù!

Ngọc Hân đáp rồi oà lên khóc. Trong cơn đau khổ, Ngọc Hân càng làm cho vị võ tướng thêm xao xuyến và càng yêu quí nhan sắc tuyệt vời của bà hơn. Ðể tỏ lòng tôn kính Ngọc Hân, vị võ tướng nói mấy lời an ủi rồi rút lui.

Sau một đêm thao thức không ngủ được, Ngọc Hân ngồi dậy uể oải cả người giữa những tiếng chim kêu êm vui và hình như còn nghe những tiếng gào thét của quân lính đang tấn công vào kinh thành. Nàng buồn phiền không muốn trang điểm gì cả. Bỗng nàng thấy một người mang trang phục đế vương tiến dần về phía mình. Nàng nhận ra người ấy là kẻ lạ mặt đêm hôm qua, đó chính là Nguyễn Ánh. Ngọc Hân đứng dậy xin lỗi về sự nhầm lẫn đêm hôm qua.

Nguyễn Ánh trong sự rạng rỡ của mình mỉm cười và nói:

-                     Hôm nay bà dậy sớm quá.

-                      Tâu hoàng đế chúng tôi suốt cả ngày đêm không ngủ.

-                     Bà là một hoàng hậu anh minh. Bà nên biết rằng mặc dù có những cuộc thay đổi, nhưng nước Nam này vẫn giữ nguyên như cũ. Bà hãy khuây khỏa, dẹp mọi ưu phiền, cung điện lâu đài này vẫn luôn luôn là của bà.

-                      Tâu, chúng tôi xin cám tạ lời vàng ngọc của ngài, nhưng... Ngọc Hân nghẹn ngào trong những tiếng nấc và nước mắt, đành bỏ dở câu, không nói tiếp được nữa...

Trước ý chí cương quyết của Nguyễn Ánh, triều đình đành chịu bó tay và Ngọc Hân vui vầy bên duyên mới, quên lãng chuyện xưa...

 

          Và cuối cùng bằng những lời hoài cổ buồn da diết, tác giả Phạm Việt Thường đã kết thúc câu chuyện: “Ngày nay, những khách qua đường hiếm hoi, dừng lại trước đền thờ Quảng Oai quận công và Thường Tín quận công, hai cái chòi trơ trụi còn lại của Ngọc Hân công chúa với Gia Long mà không thể thốt lên một tiếng thở dài não nuột, khi thấy cái đền thờ trong cảnh đổ nát và sắp tiêu vong với thời gian”.

          Ðây là một trong những truyền thuyết, mà tác giả đã dùng bút pháp để tiểu thuyết hóa câu chuyện cho thật ly kỳ và hấp dẫn miễn sao gây được ấn tượng "có thật" trong lòng độc giả là đã đạt được mục đích, và rồi đến ngày nay ở hải ngoại vẫn còn có người căn cứ vào tài liệu tiểu thuyết mà cho rằng đây là một thiên tình sử đặc sắc, một câu chuyện có thật. Rất tiếc vì thiếu đối chiếu và cẩn trọng gạn lọc tài liệu sử dụng nên sẽ tiếp tục để lại thêm không ít những di hại cho nhiều thế hệ sau. Như vậy Ngọc Hân Công Chúa có yêu vua Quang Trung hay không? hay là đã đầu độc vua Quang Trung để rồi sau này lấy vua Gia Long?

          Qua sự mai mối chớp nhoáng của Nguyễn Hữu Chỉnh, lễ cưới của Ngọc Hân Công Chúa và Nguyễn Huệ đã được tổ chức ở Thăng Long hết sức linh đình và trọng thể. Nhưng có người cho rằng đây là cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị vào giữa lúc mà thế nước chẳng đặng đừng. Có thực vậy không? Ta thử nghe mẩu đối thoại ngắn của Nguyễn Huệ và Ngọc Hân:

Nguyễn Huệ: Con trai, con gái nhà vua đã có mấy người được vẻ vang như nàng?

Ngọc Hân: Nhà vua ít lộc, các con trai, con gái ai cũng thanh bạch nghèo khó, chỉ riêng thiếp có duyên lấy được lệnh công, ví như hạt mưa bụi ngọc bay ở giữa trời, được sa vào chốn lầu đài như thế này là sự may mắn của thiếp mà thôi.

(Hoàng Lê Nhất thống chí, trang 104)

Ðây là lời trao duyên đầu tiên giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân đã được sử sách ghi lại. Vậy thì cuộc tình của Ngọc Hân và Nguyễn Huệ thật là tốt đẹp, ngay cả phụ hoàng cũng hoàn toàn như ý:

Từ cờ thắm trở vời đất Bắc
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan chèo quế, thuận đường vu qui.

Và cũng để bù đắp lại tình yêu thương của Nguyễn Huệ, ta thấy Ngọc Hân đã bày tỏ tất cả nỗi lòng da diết của mình qua bài "Văn Tế vua Quang Trung". Nhưng tiếng lòng sâu kín và bão táp nhất của Ngọc Hân đối với vua Quang Trung vẫn là nội dung chứa đựng trong những vần thơ của bài "Ai Tư Vãn". Tiếng lòng đó có lúc nức nở nghẹn ngào, tan nát có lúc dốn dập, hùng hồn, kiêu hãnh như chính cuộc đời của bà và vua Quang Trung:

Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước, xiết bao công trình

Hai câu thơ thứ ba và thứ tư trong 164 câu thơ của Ngọc Hân công chúa khóc chồng, mà ta có cảm tưởng như đang thay cho cả triều đình Tây Sơn khóc vị anh hùng vắn số.

          Còn vấn đề đầu độc vua Quang Trung, lật lại các trang sử cũ, chúng ta chỉ thấy các sử gia ghi chú ngày, tháng, năm lúc vua Quang Trung mất, không có một vị nào cho biết Quang Trung đã chết vì bị bệnh gì.

- Sử gia Hoàng Xuân Hãn viết: "Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý vào giờ dạ tý tức ngày 16 tháng 9 năm 1792 vua Quang Trung băng hà."

- Tác giả Hoàng Lê Nhất Thống Chí viết: "Vua Quang Trung mất vào năm Nhâm Tý" (1792).

- Sử gia Trần Trọng Kim viết: "Năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung bị bạo bệnh băng hà".

- Riêng học giả Hoa Bằng viết: "Vua Quang Trung mất vì chứng huyết vận năm Nhâm tý (1792)". Ðoạn sau ông nêu ra những chứng do huyết vận gây nên!

          Vua Quang Trung mất đi đã để lại rất nhiều ngẩn ngơ cho lịch sử và rất nhiều xót xa cho hậu thế. Cuộc đời của vua Quang Trung là một thiên anh hùng ca đặc sắc, nhưng đương thời còn thêu dệt thêm nhiều điều bí ẩn, diệu kỳ nên sau ngày vua Quang Trung mất đi một bức màn bí mật lại bao phủ lên người ông. Một số câu hỏi đã được đặt ra chung quanh cái chết và lăng mộ của ngài. Thế rồi nhiều nghi vấn, nhiều giả thuyết đã tạo thành nhiều cuộc tranh luận và không thiếu những truyền thuyết lưu truyền trong dân gian rất là phổ biến, nhất là ở thành phố Huế: nào là bị đầu độc, nào là bị tổ tiên của triều Nguyễn đánh vào đầu lúc chiêm bao .v.v...

          Vào khoảng tháng 8 năm 1961 trên tạp chí Phổ Thông của ông Nguyễn Vỹ đã đưa ra một nghi án lịch sử là Ngọc Hân Công Chúa đã đầu độc vua Quang Trung chết năm 1792 với tài liệu của ông Nguyễn Thượng Khánh. Ông Nguyễn Thượng Khánh cho rằng ông thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Lê (Lê Duy Mật) nhưng vào thời nhà Nguyễn buộc phải đổi họ từ Nguyễn Duy sang Nguyễn Lê và đến đời của ông thì đổi sang Nguyễn Thượng. Ông Khánh đã đưa ra một mớ sử liệu căn cứ trên bản gia phả và ông cho rằng đó là một sử liệu thầm kín của dòng dõi Nguyễn Lê có liên quan đến lịch sử mà "xưa nay chưa có ai phát giác ra". Ông Khánh cho là: Sau khi hay tin vua Càn Long hứa gả công chúa cho Quang Trung, trong một phút uất ức và cuồng trí, Ngọc Hân đã quyết định giết vua Quang Trung, "Ngọc Hân đã bỏ thuốc độc vào rượu cho vua Quang Trung uống" và ông Khánh nhìn nhận "Công chúa Ngọc Hân do một phút bồng bột vì quá ghen".

          Sau bài viết của ông Nguyễn Thượng Khánh "Vua Quang Trung chết vì một liều độc dược của Ngọc Hân công chúa" đã tạo nên những xôn xao, những dư luận và những phản ứng mạnh mẽ của con cháu dòng dõi nhà Lê (Lê Duy Mật). Vào đầu thập niên 1960 các tạp chí ở Sài gòn như Bách Khoa, Phổ Thông, Văn Ðàn v.v... đã mở ra một cuộc bút chiến chung quanh nghi án lịch sử về cái chết của vua Quang Trung vì Ngọc Hân công chúa đầu độc.

          Khởi đầu là ông Nguyễn Văn Minh đã đăng trên tạp chí Phổ Thông một bài viết với những luận cứ hết sức vững chắc để phản bác mạnh mẽ lại những lời lẽ mang tính chất hàm hồ và những ngụy biện vô căn cứ của ông Nguyễn Thượng Khánh vì bản gia phả của gia đình ông Khánh đã bị thất lạc từ lâu, cho nên ông Khánh chỉ sử dụng bản viết mà nội tổ ông Minh kể lại rồi từ đó ông Khánh suy nghiệm ra. Tiếp theo là một bài viết khá nghiêm túc của ông Thiện Sinh cũng đăng trên tạp chí Phổ Thông, đã lần lượt đưa ra những sai lầm nghiêm trọng của ông Nguyễn Thượng Khánh. Rồi thì một số tộc phổ, phổ ý của các họ nội, họ ngoại mà quý ông Nguyễn Lê Thọ ở Quế sơn Quảng nam và Võ Thành Sơn ở Ðà nẵng đã đưa ra để làm bằng chứng và cũng vạch ra những sai lầm mà ông Nguyễn Thượng Khánh đã công bố.

          Trở lại vấn đề Ngọc Hân công chúa có lấy vua Gia Long hay không? Ta thử tìm hiểu xem Ngọc Hân công chúa đã chết lúc nào?

- Trong tập "Nhân vật Tây Sơn" ghi chép rằng "vào năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh sau khi chiếm được Phú xuân, vua Cảnh Thịnh và một số quần thần cùng hoàng tộc thoát chạy ra Bắc, còn Ngọc Hân công chúa và hai con phải cải trang, thay tên đổi dạng vào lánh nạn ở Quảng nam. Ðược ít lâu thì bị phát giác, quan quân nhà Nguyễn bắt giải về Phú xuân và xử theo trọng hình, lối 'Tam ban Triều điển' ".

- Trong bài lược sử Công chúa Ngọc Hân của Ngô Tất Tố thì cho là Lê Ngọc Hân đã tự tử, còn hai con phải thắt cổ mà chết.

          Vậy thì sự thật bà Ngọc Hân chết lúc nào? Ta thử đối chiếu các tài liệu lịch sử một cách hết sức nghiêm túc, hãy gạt bỏ mọi ân oán, hờn giận riêng tư cũng như phe phái của người đương thời và kể cả người đời sau để xét đoán và đi sâu vào chi tiết của các tài liệu hầu tìm kiếm chất liệu có giá trị vững vàng hơn là căn cứ vào các tài liệu tiểu thuyết.

          Lê Ngọc Hân sinh ngày 24 tháng 4 năm Canh Dần (22 tháng 5 năm1770), là vị công chúa tài sắc vẹn toàn của vua Lê Hiển Tông. Sau khi kết hôn với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ, cuộc sống của bà đã gắn liền với sự nghiệp của vị anh hùng đất Tây Sơn, bà đã sinh hạ được hai con là hoàng tử Nguyễn Văn Ðức và công chúa Nguyễn Thị Ngọc. Trong bức thơ đề ngày 16 tháng 7 năm 1801 của Barizy, một sĩ quan người Pháp, tháp tùng cùng Nguyễn Ánh vào chiếm Phú xuân đã ghi lại như sau: "Nhà vua (Nguyễn Ánh) bảo tôi đi xem mặt các cô công chúa của kẻ tiếm vị (Quang Trung). Tôi đến đó họ ở trong một phòng hơi tối, không phải là một phòng sang trọng, có tất cả năm công chúa: một cô 16 tuổi theo tôi là một cô gái đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái của bà Công chúa Bắc kỳ (Ngọc Hân) em này cũng coi được, còn ba cô nữa cũng từ 16 đến 18 tuổi thì nước da hơi nâu nhưng diện mạo cũng dễ thương. Ngoài ra còn có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi cũng da nâu nhưng nét mặt thì tầm thường, còn em trai kia độ 12 tuổi là con của bà công chúa Bắc kỳ thì diện mạo rất đáng yêu và có những cử chỉ rất dễ thương". Như vậy ta thấy rằng khi Barizy đến tận nhà giam để kiểm nhận và xem mặt tất cả các hoàng tử, công chúa quan lại và gia đình của các quan lại cao cấp của Tây Sơn đã bị Nguyễn Ánh bắt tại Phú xuân có rất nhiều phụ nữ nhưng tuyệt nhiên ta không thấy ghi có mặt Hoàng hậu Ngọc Hân mà ông ta đã gọi là Công chúa Bắc kỳ. Và cũng theo như bản phả ký họ Nguyễn Ngọc ở làng Phù ninh, huyện Từ sơn tỉnh Bắc ninh thì đã ghi ngày chết của Ngọc Hân công chúa "tốt vu kỷ mùi niên, thập nhất nguyệt sơ bát nhật" tức chết vào ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi nhằm ngày 4 tháng 12 năm 1799. Lại nữa, đọc 5 bài văn tế bằng chữ Nôm có ghi chú rõ là văn tế Hoàng hậu (tức Ngọc Hân) của Phan Huy Ích soạn vào năm Kỷ Mùi (1799), trong Dụ Am Văn Tập thì ta thấy có sự phù hợp về năm chết của Ngọc Hân công chúa. Phan Huy Ích đã soạn 5 bài văn tế chữ Nôm như sau:

-                     Một bài soạn cho vua Cảnh Thịnh đứng tế.

-                     Một bài soạn cho các công chúa của vua Quang Trung đứng tế.

-                     Một bài soạn cho bà thân sinh Hoàng hậu là Phù Ninh Từ Cung đứng tế.

-                     Một bài soạn cho Tôn thất nhà Lê đứng tế.

-                     Một bài soạn cho bà con bên ngoại của Hoàng hậu ở Phù Ninh đứng tế.

Ta thử lướt qua, một đoạn ngắn trong bài văn tế, soạn cho vua Cảnh Thịnh đứng tế với đề là "Kỷ Mùi đông nghĩ, ngự điện Vũ Hoàng hậu" với những lời lẽ rất hợp với hoàn cảnh của Hoàng hậu Ngọc Hân như sau:

"Than ôi!

Nguyệt in phách quế, mái trường thu vừa rạng vẻ làu làu,

sương ủ hồn hoa, niềm thương uyên chột rơi mùi thoang thoảng,

nẻo chân du quạnh cõi biết tìm đâu,

niềm vĩnh mộ bâng khuâng hằng chạnh tưởng.

Noi tiên chí vậy dốc bề trí kính,

dấu sân huyên đôi chốn sum vầy,

cảm mẫu nghi mà thay buổi thừa hoan,

vẻ áo vải xưa kia mường tượng.

Mong thể thiên tùng chập thân cao,

 kiềm máy máy so le khôn lường....

Ôi! bóng quạnh nước mây thoi đưa ngày tháng,

chồi tiên lan nhường rã rợi bên thềm,

dấu cử vũ bỗng lạnh lùng dưới trướng.

Nguyện cũ hẳn nay đã vẹn tròn,

bên Ðan lăng quanh quất mạch liên châu - khí thiêng dõi để dặc dài,

trong thanh miếu ngọt ngào mùi quán sưởng.

Rày nhân gác bánh liễu dư, bày hàng thử trượng.

Nhìn hâm vệ hành ngưng mọi vẻ, đường u hiển xa lìa,

dâng điện diên gọi vái mấy lời, mối luân thường tỏ sáng.

Hỡi ơi, cảm thay!"

          Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, là một chuỗi dài của chiến tranh, cho nên sách vở đã thất lạc và mất mát khá nhiều, bởi vậy tài liệu rất là thiếu thốn và hiếm hoi, cho nên ta đành phải bằng lòng với thực tế những gì ta có, để rồi gạn lọc đánh giá và sử dụng những tài liệu có mức độ khả tín như những giấy tờ của các người Tây phương có liên lạc với Nguyễn Ánh, các bài văn tế của các nhân vật lịch sử và các bài phả ký của dòng họ liên hệ. Như vậy nhìn chung vào ba tài liệu của Barizy, bản phả ký họ Nguyễn Ngọc ở Phù ninh và năm bài văn tế Ngọc Hân Công Chúa của Phan Huy Ích đã soạn thì chúng ta thấy rằng Ngọc Hân công chúa đã chết và được an táng trọng thể tại Huế trước khi Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú xuân năm 1801, nên Ngọc Hân không hề lấy Gia Long như những dòng tiểu thuyết hư cấu của Phạm Việt Thường đã tạo thành một thiên tình sử giữa Ngọc Hân và vua Gia Long.

Ngọc Hân công chúa chết đi để lại một số tác phẩm:

-                     Biểu chúc mừng Quang Trung nhân dịp lễ tứ tuần (1792)

-                     Ai Tư VãnVăn tế vua Quang Trung

Tất cả nội dung của những sáng tác trên đều cho chúng ta thấy rằng chủ đề cảm xúc lớn lao nhất trong sự nghiệp sáng tạo văn thơ của bà là vua Quang Trung.

          Ðến đây, chúng ta thấy rằng cần phải trả lại nguyên vẹn sự trong sáng cho Ngọc Hân Công Chúa vì một sự bất hạnh đầy cay đắng và tủi nhục qua những thứ tài liệu của những người viết văn giàu óc tưởng tượng và thêu dệt tùy hứng.

          Hãy để cho Bắc cung Hoàng hậu của Ðại đế Quang Trung ngủ yên, xin đừng bôi bác thêm. Lịch sử của triều Nguyễn trong suốt 152 năm trị vì vốn đã có nhiều bất công đối với nhà Tây Sơn, cũng chỉ vì chúng ta đã không có những nhà viết sử đủ can đảm và lương thiện như Tư Mã Thiên, như Nễ Hành, để ghi chép lại sự thật một giai đoạn đen tối, loạn lạc và hiếm hoi nhất của lịch sử, sau một cơn chuyển mình lớn mạnh đầy sinh động và dồi dào sinh lực của đất nước. Và đây cũng là thời kỳ hào hùng và huy hoàng nhất nhưng lại cũng ít được biết nhất là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn có vóc dáng là một cuộc khởi nghĩa của dân chúng mang tính chất quật cường của dân tộc, mà ba anh em nhà Tây Sơn đã không dựa vào chiến tranh chống ngoại xâm, cũng không dựa vào sự nghiệp cha truyền con nối, lại cũng không dựa vào thế lực ngoại bang để lên ngôi như nhà Nguyễn sau này, mà họ chỉ dựa vào sức mạnh của quần chúng và lòng dân.

          Nhưng rồi ngày nay mỗi khi nhắc đến nhà Tây Sơn, người ta chỉ còn nhớ đến vua Quang Trung với những chiến thắng Ðống Đa, Hà Hồi, Ngọc Hồi của mùa xuân Kỷ Dậu độ nào. Hoặc chỉ còn bàng bạc nhớ đến tiếng than não nuột "mà nay áo vải cờ đào" của Ngọc Hân Công Chúa khóc chồng, chẳng mấy ai nghĩ rằng: linh hồn cờ đào thì vẫn còn đó và áo vải của đất Tây Sơn thì vẫn còn đây, nhưng hỏi những ai là người nối bước Quang Trung để mặc áo, phất cờ mà "giúp dân dựng nước"?

          Thôi thì, năm tháng đã cuốn đi theo chiều gió với bao vui buồn và mất mát! Có còn chăng là mối tình vương giả đẹp tuyệt vời của cô Công chúa Bắc kỳ nho nhỏ và người anh hùng áo vải đất Tây Sơn.

         

          NGUYỄN AN PHONG

          Ðặc san QUANG TRUNG - TÂY SƠN, Xuân Ðinh Sửu 1997