Sách » Lịch Sử » Lịch sử Việt Nam » Bia Văn miếu

Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Quý Mùi niên hiệu Phúc Thái năm thứ 1 (1643)

Đời mở nền trí trị, vận thuộc thời yên bình.

Kính nghĩ: Thái Tổ Cao hoàng đế thánh triều, trời ban trí dũng, từng trải kinh luân, xua hết loài cọp beo, giữ cho dân yên ổn, việc đầu dựng trường học nuôi dưỡng nhân tài thiên hạ. Liệt thánh hoàng đế kế thừa thể chế thành pháp, làm sáng rõ quy mô, vun mạch nhân hậu, chỉnh đốn kỷ cương bốn phương, rộng đặt khoa trường để đón bậc tuấn kiệt trong thiên hạ. Buổi bấy giờ khoa mục thịnh hành, văn phong chấn phát, cơ nghiệp thái bình ức vạn năm chính là ở lúc này.

Bỗng chốc ngụy Mạc phạm thượng, nhưng quốc thống như sợi chỉ chưa đứt. May thay mệnh trời chưa đổi, cơ hội trung hưng chính là ở lúc này. Trang Tông Dụ hoàng đế, Trung Tông Vũ hoàng đế, Anh Tông Tuấn hoàng đế kế thừa nghiệp lớn, đều nhờ sức Thế Tổ Minh Khang đại vương giúp cho sáng lại nhật nguyệt đôi vừng. Khi ấy mở Chế khoa gồm hai khoa để chọn dùng nhân tài, chấn hưng sự nghiệp. Thế Tông Nghị hoàng đế, Kính Tông Huệ hoàng đế khôi phục cơ đồ lớn, nhờ hẳn vào công của Thành Tổ Triết vương chỉnh đốn tái tạo lại đất trời. Buổi ấy đặt Chế khoa một khoa, Tiến sĩ 13 khoa, cất nhắc sử dụng hiền tài để cùng lo dựng lại kỷ cương.

Kính nghĩ: Hoàng thượng bệ hạ thánh văn thần võ, sáng suốt thông minh, từ khi mới lên ngôi thực nhờ có [Đại nguyên súy Thống quốc chính Sư phụ Thanh vương] vỗ yên thiên hạ, gây dựng trị công, tùy thời đặt khoa mục, có tiếng là được nhân tài. Đến năm Quý Mùi bèn truyền ngôi cho Chân Tông Thuần hoàng đế, đặt niên hiệu Phúc Thái năm đầu, vừa đúng tiết tiểu xuân, cho mở khoa thi lớn. Khi đó sĩ tử trong thiên hạ đến đua tài trên 2.000 người, vào trúng cách chỉ được 9 người. Quan hữu ty đem tên dâng lên, vua sai chọn ngày cho vào Điện thí. Đặc sai Đề điệu là Thái bảo Kiên Quận công Trịnh Quân, Tri Cống cử là Ngự sử đài Đô Ngự sử Thọ Lĩnh hầu Nguyễn Nghi, Giám thí là Lễ bộ Tả Thị lang kiêm Hàn lâm viện Thị giảng, Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Thọ Diên hầu Dương Trí Trạch, Lại bộ Hữu Thị lang Mỹ Thọ bá Nguyễn Quang Minh chia giữ các việc.

Hôm sau dâng quyển lên đọc. Vua đích thân xem và định thứ bậc, cho Nguyễn Khắc Thiệu, Lê Hiệu hai người đỗ Tiến sĩ xuất thân; bọn Lê Đình Dự 7 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân.

Ngày hôm đó, Hoàng thượng ngự ở cửa điện Kính Thiên, loa truyền tên người đỗ, Bộ Lễ rước bảng vàng treo ngoài cửa nhà Thái học. Sau đó sai ban ân huệ, cho áo mũ, yến tiệc, nghi lễ ban thưởng thật đã hết mức vậy.

Nay nghĩ: Hoàng đế bệ hạ lại nối ngôi báu, làm sáng đẹp công người xưa. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Sư phụ Thanh vương] sáng suốt phò thánh chúa, dốc sức cầu hiền tài, cùng [Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương] đồng lòng cung kính, chiêu nạp nhân tài, kế tiếp mở khoa trường, nhân văn càng rực rỡ. Xét từ năm Thuận Bình (1549-1555) tới nay, cả thảy 26 khoa, việc dựng bia đá còn chưa theo lệ. Bèn sai quan Bộ Công chọn đá, sai từ thần soạn bài ký. Thần vâng thuật lại khoa này, kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, khoa mục là chí công của thiên hạ. Xưa nhà Thành Chu lập trường quốc học là cách để lấy hiền tài, đã có tuyển Tiến sĩ, đó là khởi đầu. Về sau, nhà Đường cho Tiến sĩ là bảng Long hổ, nhà Tống cho Tiến sĩ là khoa Tướng tướng. Thế đủ biết việc đặt khoa mục đã có từ lâu vậy.

Đến nay Hoàng thượng bệ hạ ở ngôi vua, nắm cơ tạo tác, làm chấn phát lớn Nho phong, mở mang phô bày văn giáo. Cho nên nhân tài nối nhau xuất hiện làm bậc danh thần của nước nhà. Còn như khoa thi này là khoa đầu tiên của niên hiệu Phúc Thái, được nhiều nhân tài, làm vẻ vang hơn đời trước. Nay dựng bia đá một lần mà truyền tới lâu dài, đạo tác thành nhân tài, cách khích lệ kẻ sĩ há chẳng rõ ràng, đầy đủ lắm sao?

Thế thì người được khắc tên vào tấm đá này nên cảm kích khắc ghi ơn lớn, dồi mài danh tiết, lấy việc trí quân trạch dân làm trách nhiệm, lấy việc giúp đời hành đạo làm niềm vui, khiến thiên hạ yên ổn như Thái Sơn, nước nhà vững như bàn thạch. Ngày sau người ta tất sẽ chỉ tên mà khen thì tên tuổi ấy còn mãi, thời gian càng xa càng thêm rực rỡ vậy. Còn như ngoài cứng trong mềm, trước trong trắng sau tì vết, danh thực sai lệch, lời nói việc làm trái ngược thì đích thực chỉ làm vết nhơ cho khoa mục, há chẳng đáng răn đe sao!

Thế thì cái cơ vi dẫn đến thành tựu của các bậc thánh đức thần công thật hết mức tinh vi, hết mức huyền diệu, không chỉ khiến sĩ phu đương thời một lòng cố gắng giúp đời thịnh trị như Tam đại Đường Ngu, mà còn tỏ cho kẻ học đời sau biết để khuyên răn, để cùng nhau xem báo đổi lông, phượng gáy múa, nhân tài lớp lớp xuất hiện bảo vệ cho con cháu và lê dân ta đời đời, xã tắc cơ đồ vững bền mãi mãi.

Thần kính cẩn làm bài ký.

Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thượng thư Bộ Lễ kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Bạt Quận công Dương Trí Trạch vâng sắc nhuận.

Cẩn sự lang Hàn lâm viện Hiệu thảo Nguyễn Đình Chính1 vâng sắc soạn.

Trung thư giám Hoa văn học sinh Đàm Phú Hoành quê xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Oai vâng sắc viết chữ (chân kiêm chữ triện).

Bia dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653). 

 

 

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 2 người:

NGUYỄN KHẮC THIỆU 阮克紹2 phường Hà Khẩu huyện Thọ Xương.

LÊ HIỆU 3 người xã Quan Trung huyện Đông Thành.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 7 người:

LÊ ĐÌNH DỰ 黎廷譽4 người xã Nhân Mục Cựu huyện Thanh Trì.

LÊ TRÍ TRẠCH 黎致澤5 người xã An Nhân huyện Chương Đức.

PHAN ĐỨC TOÀN 潘德全6 người xã Địa Linh huyện Thụy Nguyên.

LÊ QUỲNH 黎瓊7 người xã Hoàng Mai huyện Quỳnh Lưu.

LƯƠNG NGHI 梁宜8 người xã Tào Sơn huyện Ngọc Sơn.

NGUYỄN VĂN BẢNG 阮文榜9 người xã Lãm Dương huyện Quế Dương.

VŨ LƯƠNG 武良10 người xã Mộ Trạch huyện Đường An.

Chú thích:

1. Nguyễn Đình Chính: Xem chú thích 13, Bia 39. Có tài liệu ghi là Nguyễn Kiều Nhạc.

2. Nguyễn Khắc Thiệu (1611-1668) người phường Hà Khẩu huyện Thọ Xương (nay thuộc phường Hàng Buồm quận Hoàn Kiếm Tp. Hà Nội), trú quán xã Hoằng Liệt huyện Thanh Trì (nay thuộc xã Hoằng Liệt huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông là con của Nguyễn Khắc Văn, làm quan Thượng thư Bộ Lễ, tước Quận công. Sau bị giáng xuống Tả Thị lang Bộ Lễ, tước bá. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Lễ và ban thụy là Trung Túc. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Năng Thiệu.

3. Lê Hiệu (1617-?) người xã Quan Trung huyện Đông Thành (nay thuộc xã Sơn Thành huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An). Ông là con của Lê Kính và giữ các chức quan, như Tham tụng, Thượng thư Bộ Lễ, tước hầu, từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau ông bị bãi chức, nhưng khi mất, được tặng chức Tả Thị lang.

4. Lê Đình Dự (1600-?) người xã Nhân Mục Cựu huyện Thanh Trì (nay thuộc Khương Đình quận Thanh Xuân Tp. Hà Nội). Ông là cha của Lê Đình Lại, làm quan Tả Thị lang Bộ Hình, tước Phượng Trì nam. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Hình, tước Quận công.

5. Lê Trí Trạch (1600-?) người xã Yên Nhân huyện Chương Đức (nay thuộc xã Hòa Chính huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông là con của Lê Trí Dụng và làm quan đến Cấp sự trung.

6. Phan Đức Toàn (1615-?) người xã Địa Linh huyện Thụy Nguyên (nay thuộc xã Thiệu Tâm huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình, tước Thụy Quận công. Nhưng vì để ùn tắc án kiện, ông bị giáng xuống Hữu Thị lang Bộ Hộ, rồi thăng Tả Thị lang Bộ Lại. Sau ông lại phạm lỗi cất nhắc không đúng, nên lại bị giáng xuống Thái thường Tự khanh, rồi lại vẫn phạm lỗi nên bị cách làm thứ dân. Có tài liệu ghi ông là Phan Kiêm Toàn.

7. Lê Quỳnh (1513 -?) người xã Hoàng Mai huyện Quỳnh Lưu (nay thuộc xã Quỳnh Vinh huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Hiến sát sứ.

8. Lương Nghi (1614-?) người xã Tào Sơn huyện Ngọc Sơn (nay thuộc huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hiệu thư, tước Nghĩa Sơn tử và sau bị bãi chức. Có tài liệu ghi, sau ông đổi tên là Lương Thực.

9. Nguyễn Văn Bảng (1612-?) người xã Lãm Dương huyện Quế Dương (nay thuộc xã Vân Dương huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến Binh khoa Đô Cấp sự trung. Có tài liệu ghi, ông người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Nam Sơn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh).

10. Vũ Lương (1606-1676) người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông là cha của Vũ Đình Lâm và là ông nội Vũ Đình Thiều. Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Hình, tước Tử. Sau khi mất, ông được tặng chức Tả Thị lang Bộ Binh, tước bá.