Sách » Lịch Sử » Lịch sử Việt Nam » Bia Văn miếu

Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Quý Mùi niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 6 (1514)

Niên hiệu Hồng Thuận thứ 6, rồng bay năm Giáp Tuất, gặp lúc mở khoa thi, sĩ tử bốn phương gặp nhau ở chốn xuân vi để đua tài nghệ đông đến 5.700 người. Qua bốn trường chọn được hạng trúng cách 43 người. Ngày 27 tháng 4 cho gọi vào Điện thí. Hoàng thượng sai Tá lý Hiệp mưu Kính thận Trinh ý công thần Đặc tiến Khai phủ Kim tử Vinh lộc đại phu Tả Bình chương quân Quốc trọng sự Nhập nội Kiểm hiệu Thượng tướng Thái uý Lượng quốc công Thượng trụ quốc Lê Phụ, Phụng trực đại phu Lại bộ Thượng thư Tri Chiêu văn quán Tú lâm cục Tư chính Thượng khanh Đàm Thận Huy, Gia hạnh đại phu Công bộ Hữu Thị lang Khuông mỹ doãn Lê Tán Tương, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thiếu bảo Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu tri kinh diên sự Đôn Thư bá trụ quốc Lê Tung, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư Lễ bá Trụ quốc Nguyễn Bá Thuyên, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Hộ bộ Thượng thư Tri Chiêu văn quán Tú lâm cục Cẩn Lễ nam Chính trị Thượng khanh Đoàn Mậu, Quang nghiệp đại phu Thượng thư Đông các Đại học sĩ Nhập thi Kinh diên Chính trị khanh Đỗ Nhạc chia giữ các việc. Khi dâng quyển lên đọc, Hoàng thượng đích thân xem xét, định thứ tự cao thấp. Ban cho bọn Nguyễn Đức Lượng đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Vũ đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Bỉnh Di đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Thứ tự ban ơn nhất nhất đều theo lệ cũ. Bộ Lễ xin khắc đá dựng bia ở nhà Thái học để truyền lâu dài. Nhưng trong nước gặp lúc tai ách1, dấy việc binh đao, đường sá đi lại không thông, nên việc dựng đá đề danh chưa kịp làm. Hoàng thượng cả dấy nghĩa quân khôi phục cơ đồ, ngay khi vừa dẹp tan giặc trở về kinh đô liền sai quan Bộ Công khắc đá, giao cho thần soạn bài ký. Thần kính vâng lời ngọc, kính cẩn cúi đầu rập đầu chúc mừng cho nền tư văn và các sĩ tử, không dám viện cớ vụng về nông cạn chối từ.

Kính nghĩ: Trời đất đối với muôn vật phú cho nguyên khí vận chuyển bốn mùa để hoàn thành công hóa dục. Đế vương đối với muôn dân, thực nhờ các bề tôi tài giỏi chia giữ các chức mà đạt tới cuộc thái bình thịnh trị. Trên từ Nhị đế (Nghiêu, Thuấn), Tam vương (Hạ, Thương, Chu), dưới đến cuộc hưng thịnh của các triều Hán, Đường, Triệu, Tống không triều nào không coi việc sử dụng nhân tài là việc cấp bách. Nhưng lề lối đào tạo tuyển chọn, cách thức khích lệ biểu dương chưa đời nào có được quy mô to rộng, khuôn phép tốt đẹp rõ ràng đầy đủ như các bậc liệt thánh triều ta.

Kính nghĩ: Hoàng thượng hoàn thành sự nghiệp trung hưng, lập công làm rạng rỡ các đời trước. Thánh học tinh thông, thấm nhuần nguồn đạo, cổ vũ giáo hoá văn trị cách tân. Mùa xuân năm Mậu Dần, Hoàng thượng đích thân ngự ở hiên điện ra đề thi cho sĩ tử. Mùa hạ năm Canh Thìn lại đặt ân khoa để lấy hiền tài. Đến năm Tân Tị lại cho dựng đá đề danh người thi đỗ khoa Giáp Tuất để bổ sung thiếu sót và để kịp thời biểu dương khuyến khích. Đó chẳng phải là thịnh ý sùng Nho của Hoàng thượng hay sao!

Vả lại các Tiến sĩ thi đỗ khoa này tuỳ theo tài năng đã được bổ dụng, phục vụ tại các bộ viện, hoặc theo hầu hạ trong cơn hoạn nạn, hoặc giúp sách lược đánh dẹp, hoặc giúp sửa sang chính sự, soạn thảo giấy tờ, tiết tháo tài năng đại thể đã tỏ rõ. Nay lại được ơn vua tô điểm, lòng cảm kích phải như thế nào cho xứng đáng? Ắt phải đem lòng trung chính phụng thờ, ắt phải trọn đời lo nghĩ đền đáp. Trước lo phận sự, sau mới tới tài năng; trước phải trau dồi khí tiết, sau mới tới tài nghệ; trước phải nên đức hạnh, sau mới tới văn chương. Hãy làm mây lành sao tỏ nêu điềm tốt cho đời, làm ngọc sáng vàng ròng để làm của báu cho nước, làm giáo làm gươm để dẹp trừ tiếm loạn, làm bậc tiên giác như cây kỷ cây tử để vững chắc rường cột. Hoặc làm lúa làm gạo, làm vải lụa để giúp dân nghèo, hoặc làm sâm linh kỳ truật để bồi bổ khí mạch quốc gia, khiến cho cuộc trị bình của nước nhà bước lên chốn vẻ vang tươi sáng, đặt thiên hạ vào thế yên như núi Thái Sơn, ngõ hầu trên không phụ thánh đức biểu dương, dưới không phụ với sở học ngày thường. Được thế thì công danh sự nghiệp này sẽ cùng bia đá kia không mục. Nếu không được như vậy thì hiền hay không hiền, trung hay tà, phải trái nên hư phân biệt rõ ràng, ngọc có vết không thể che đậy. Người đời sẽ chỉ vào tên mà bàn tán, công luận thật nghiêm xét, há chẳng đáng sợ lắm sao?

Thần dám lấy đó làm lời răn các sĩ tử được đề danh, cũng là để tự răn mình và để soi sáng cho người đời sau khi xem bia đá này.

Trinh ý công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thiếu bảo Lại bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Nhập thị Kinh diên Chính trị Thượng khanh Vũ Duệ vâng sắc soạn.

Trung trinh đại phu Trung thư giám Điển thư Khuông mỹ Thiếu doãn Chu Đình Bảo vâng sắc viết chữ (chân).

Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Tư chính khanh Phạm Đức Mạo vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 17 tháng 4 niên hiệu Quang Thiệu thứ 6 (1521).

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:

NGUYỄN ĐỨC LƯỢNG 阮德亮2 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.

NGUYỄN CHIÊU HUẤN 阮昭訓3 người huyện Yên Phú phủ Từ Sơn.

HOÀNG MINH TÁ 黃明佐4 người huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 20 người:

NGUYỄN阮瑀5 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.

NGUYỄN TỰ CƯỜNG 阮自強6 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.

PHẠM CHÍNH NGHỊ 范正毅7 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.

ĐOÀN QUẢNG PHU 段廣敷8 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.

NGUYỄN NGUYÊN TÁN 阮元贊9 người huyện Thanh Lan phủ Tân Hưng.

PHẠM THỌ CHẤT 范壽質10 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.

NGUYỄN ĐÔN CUNG 阮敦恭11 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.

NGUYỄN ĐỐC TÍN 阮篤信12 người huyện An Lão phủ Kinh Môn.

NGÔ TÒNG CỦ 吳從矩13 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.

NGUYỄN TRỌNG HIỆU 阮仲效14 người huyện Siêu Loại phủ Thuận An.

NGUYỄN VĂN KIỆT 阮文傑15 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.

LẠI GIA PHÚC 賴嘉福16 người huyện Phúc Yên phủ An Bình.

NGUYỄN DOÃN KHÂM 阮允欽17 người huyện Phụ Dực phủ Thái Bình.

CHỬ SƯ ĐỔNG 褚師董18 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.

HÀ CẢNH ĐẠO 何景道19 người huyện Siêu Loại phủ Thuận An.

ĐỖ CẢNH 杜景20 người huyện Phụ Dực phủ Thái Bình.

NGUYỄN CHÍNH TUÂN 阮政恂21 người huyện Sơn Vi phủ Lâm Thao.

NGUYỄN ĐẠM 阮澹22 người huyện Gia Phúc phủ Hạ Hồng.

LÊ THỜI BẬT 黎時弼23 người huyện Nghi Dương phủ Kinh Môn.

TRỊNH BÁ 鄭霸24Ứngười huyện Phú Lương phủ Phú Bình.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 20 người:

NGUYỄN BỈNH DI 阮秉彝25 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.

NGUYỄN DOÃN TUY 阮允綏26 người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.

ĐỖ VĂN NGUYÊN 杜文沅27 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.

NGUYỄN CHUYÊN MỸ 阮專美28 người huyện An Lão phủ Kinh Môn.

PHẠM LÂN ĐỊNH 范麟定29 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.

NGUYỄN BỈNH ĐỨC 阮秉德30 người huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên.

BÙI CÔNG PHỤ 裴公輔31 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Hà.

PHẠM MINH DU 范明猷32 người châu Tân An phủ Hải Đông.

VŨ QUANG TÚC 武光肅33 người huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn.

NGUYỄN ĐIỂN KÍNH 范典敬34 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.

PHẠM KÍNH TRUNG 范敬忠35 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.

PHAN DOÃN THÔNG 潘允聰36 người huyện Bạch Hạc phủ Tam Đới.

LÊ DUY LƯƠNG 黎維良37 người huyện Gia Phúc phủ Hạ Hồng.

VŨ HỮU NGHIÊM 武有嚴38 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.

ĐOÀN SƯ ĐỨC 段師德39 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.

NGUYỄN CẢNH QUYNH 阮景駉40 người huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn.

NGUYỄN CHÂU MẠO 阮珠瑁41 người huyện Yên Lãng phủ Tam Đới.

NGUYỄN KÍNH HOÀ 阮敬和42 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.

NGUYỄN HANH GIA 阮亨嘉43 người huyện Vĩnh Xương phủ Phụng Thiên.

TRẦN VIÊN 陳員44 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.

Chú thích:

1. Chỉ cuộc biến loạn của Lê Uy Mục.

2. Nguyễn Đức Lượng (1465-?) người xã Canh Hoạch huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Dân Hòa huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư.

3. Nguyễn Chiêu Huấn (?-?) người xã Yên Phong huyện Yên Phong (nay thuộc xã Vạn An huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

4. Hoàng Minh Tá (?-?) người xã Hoàng Xá huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Cẩm Điền huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thừa chính sứ. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Minh Tá.

5. Nguyễn (1457-1516) người xã Thiên Mỗ huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Đại Mỗ huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Binh, Thượng thư Bộ Hình kiêm Bảo Thiên điện Đại học sĩ, Hàn lâm Thừa chỉ, Nhập thị Kinh diên.

6. Nguyễn Tự Cường (?-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hiến sát sứ. Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, ông dấy binh chống cự rồi thua trận bị bắt, uống thuốc độc tự tử. Sau nhà Lê Trung hưng phong làm phúc thần.

7. Phạm Chính Nghị (1486-?) người xã Hoa Cầu huyện Lang Tài (nay thuộc xã An Thịnh huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Văn Trường bá.

8. Đoàn Quảng Phu (?-?)người xã Hoa Đường huyện Đường An (nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đông các Đại học sĩ. Có tài liệu ghi ông là Đoàn Đức Phu.

9. Nguyễn Nguyên Tán (?-?) người xã Biền Hàn huyện Thanh Lan (nay thuộc xã Thái Hưng huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Đông các.

10. Phạm Thọ Chất (?-?) người xã Cao La huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Dân Chủ huyện Tứ Kì tỉnh Hải Dương). Ông làm quan với nhà Mạc đến chức Thượng thư.

11. Nguyễn Đôn Cung (?-?) người xã Lỗi Dương huyện Tứ Kỳ (nay thuộc huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Ngự sử, tước bá.

12. Nguyễn Đốc Tín (?-?) người xã Thạch Lựu huyện Yên Lão (nay thuộc xã An Thái huyện An Lão Tp. Hải Phòng). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước hầu.

13. Ngô Tòng Củ (?-?) người xã Hà Vĩ huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Liên Hà huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ.

14. Nguyễn Trọng Hiệu (1486-1559) người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Đại Đồng Thành huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Lê đến chức Thượng thư, tước bá. Sau ông ra làm quan cho nhà Mạc, giữ các chức Hàn lâm viện, Quốc tử giám Tế tửu, tước hầu.

15. Nguyễn Văn Kiệt (?-?) người xã An Lao huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã An Thanh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

16. Lại Gia Phúc (?-?) người xã Mỹ Xá huyện Đông Yên (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thị lang.

17. Nguyễn Doãn Khâm (?-?) người làng Địa Linh huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Bài huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Lại bộ Tả Thị lang. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Khắc Khâm.

18. Chử Sư Đổng (?-?) người xã Hội Phụ huyện Đông Ngàn (nay là thuộc xã Đông Hội huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thượng thư.

19. Hà Cảnh Đạo (1491-?) người xã Đạo Tú huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư kiêm Đô Ngự sử, tước Sùng Lễ bá.

20. Đỗ Cảnh (?-?) người làng An Bài huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Bài huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thị lang.

21. Nguyễn Chính Tuân (?-?) người xã Xuân Lũng huyện Sơn Vi (nay thuộc xã Xuân Lũng huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ). Ông giữ các chức quan, như Đoán sự, Thượng thư, tước Ngọc Quận công. Khi nhà Mạc tiếm ngôi, ông giữ phẩm tiết. Sau triều Lê Trung hưng tôn ông là bậc tiết nghĩa. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Sĩ Tuân.

22. Nguyễn Đạm (?-?) người xã Đoàn Lâm huyện Gia Phúc (nay thuộc xã Thanh Tùng huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương), trú quán xã Hoa Bằng (nay cùng huyện). Ông làm quan Thừa chính sứ.

23. Lê Thời Bật (?-?) người xã Lê Xá huyện Nghi Dương (nay thuộc xã Tú Sơn huyện Kiến Thụy Tp. Hải Phòng). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Văn Uyên hầu.

24. Trịnh Bá (?-?) người xã Cù Đàm huyện Phú Lương (nay thuộc huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Binh. Có tài liệu ghi ông người xã Lệ Trạch.

25. Nguyễn Bỉnh Di (?-?) người xã Ô Mễ huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Binh.

26. Nguyễn Doãn Tuy (?-?) người xã Khánh Hiệp huyện Đan Phượng (nay thuộc thôn Thượng Hiệp xã Tam Hiệp huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Cấp sự trung. Khi vua Chiêu Tông chạy vào Thanh Hóa, ông không đi theo. Đến khi Chiêu Tông lấy lại được kinh đô, ông vào yết kiến, vua sai lực sĩ đem chém.

27. Đỗ Văn Nguyên (1486-?) người xã Mễ Trì huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Mễ Trì huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội), trú quán xã Quả Hối (nay là xã Mỹ Đình huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thị lang. Có tài liệu ghi ông là Đỗ Văn Hãng.

28. Nguyễn Chuyên Mỹ (?-?) người xã Thạch Lựu huyện Yên Lão (nay thuộc xã An Thái huyện An Lão Tp. Hải Phòng). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Văn Đẩu hầu.

29. Phạm Lân Định (1484-?) người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.

30. Nguyễn Bỉnh Đức (?-?) người phường Thịnh Quang huyện Quảng Đức (nay thuộc phường Thịnh Quang quận Đống Đa Tp. Hà Nội), trú quán xã Hương Canh huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Xuân Phương huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, Thiếu phó kiêm Đông các, tước Liêm Quận công và được ban họ Mạc.

31. Bùi Công Phụ (?-?) người xã Đồng Lạc huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Tiên Dược huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thượng thư.

32. Phạm Minh Du (1491-?) người xã Cẩm Hà huyện An Lão (nay thuộc huyện An Hải Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Thừa chính sứ. Có tài liệu ghi ông người xã Cẩm Bồ huyện Tiên Minh (nay thuộc huyện Tiên Lãng Tp. Hải Phòng).

33. Vũ Quang Túc (?-?) người xã Vĩ Vũ huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Vũ Ninh thị xã Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan với nhà Mạc đến Thượng thư, tước Dục Lễ hầu. Ông nguyên tên là Vũ Tuân .

34. Nguyễn Điển Kính (?-?) người xã Đào Xá huyện Lang Tài (nay thuộc xã Trung Chính huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan với nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Văn Ninh hầu và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Có tài liệu ghi ông là Phạm Điển Kính.

35. Phạm Kính Trung (?-?) người xã Lai Xá huyện Lương Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc đến Đại lý tự khanh, tước hầu.

36. Phan Doãn Thông (?-?) người xã Kiên Cương huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Ngũ Kiên huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Hữu Thị lang.

37. Lê Duy Lương (?-?) người xã Cẩm Đới huyện Trường Tân (nay thuộc xã Thống Nhất huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Thượng thư, tước bá.

38. Vũ Hữu Nghiêm (?-?) người xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

39. Đoàn Sư Đức (?-?) người xã Văn Xá huyện Lương Tài (nay thuộc xã Phú Hòa huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc, đến chức Thượng thư, tước Hà Văn hầu và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

40. Nguyễn Cảnh Quynh (?-?) người xã Vụ Nông huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã Đại Bản huyện An Hải Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo.

41. Nguyễn Châu Mạo (1490-?) người xã Khê Ngoại huyện Yên Lãng (nay thuộc xã Văn Khê huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Đô Ngự sử.

42. Nguyễn Kính Hoà (1485-?) người xã Diên Trường huyện Thanh Đàm (nay thuộc huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.

43. Nguyễn Hanh Gia (?-?) người phường Đông Các huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Ba Đình Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo.

44. Trần Viên (?-?) người xã Nhật Cốc huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây), trú quán xã Thượng Cát huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Kim Bài huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang.