Sách » Lịch Sử » Lịch sử Việt Nam » Bia Văn miếu

Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống năm thứ 5 (1502)

Mở khoa thi Tiến sĩ là quy chế đã định sẵn để kén chọn kẻ sĩ, khắc đá đề danh cốt để rộng rãi khuyến khích nhân tài. Các triều trước đều lấy đó để làm sáng tỏ nhân văn, thánh triều cũng lấy đó để nâng cao hiệu quả trị đạo. Đại khái kinh điển giáo hóa lớn của triều đình hàm chứa trong đó, đâu phải chỉ để ghi sự việc cho đẹp mắt mà thôi đâu!

Mùa xuân năm Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), Bộ Lễ theo lệ cũ, mở khoa thi Hội các Cử nhân trong nước, số dự thi đông đến 5000. Qua bốn trường lấy trúng cách được 61 người, đưa tên dâng lên. Hoàng thượng đích thân hỏi thi ở sân rồng. Sai Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Nam quân Phò mã đô uý Lâm Hoài bá Trụ quốc Lê Đạt Chiêu, Hộ bộ Thượng thư Vũ Hữu, Binh bộ Tả Thị lang Dương Trực Nguyên, Ngự sử đài Thiêm Đô Ngự sử Bùi Xương Trạch chia giữ các việc. Lễ bộ Thượng thư Tả xuân phường Tả dụ đức kiêm Đông các Đại học sĩ Đàm Văn Lễ, Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị độc Chưởng Hàn lâm viện sự Nguyễn Bảo, Lễ bộ Tả Thị lang kiêm Đông các Học sĩ Lê Ngạn Tá; Quốc tử giám Tế tửu Hà Công Trình, Tư nghiệp Hoàng Bồi, Thái thường Tự khanh Nghiêm Lâm dâng quyển lên đọc. Hoàng thượng đích thân xem xét, ban cho bọn Lê Ích Mộc 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Cảnh Diễn 24 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Phạm Khiêm Ích 34 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân.

Tư thiên giám chọn ngày tốt, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai truyền loa xướng tên người thi đỗ, trăm quan mặc triều phục chúc mừng. Mấy năm trước bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa, năm nay sai Bộ Lễ rước bảng có trống nhạc dẫn trước, đem treo ngoài cửa nhà Thái học, cốt khiến cho sĩ tử nhìn thấy mà thêm phần khích lệ. Ân vinh ban theo thứ bậc, thảy đều theo lệ cũ. Quan Bộ Công theo lệ khắc đá đề danh để truyền tới lâu dài. Sai từ thần soạn bài ký. Thần là Đàm Văn Lễ kém cỏi, giữ trách nhiệm soạn thuật, không dám lấy cớ quê mùa chối từ.

Thần trộm nghĩ: đời Thành Chu bắt đầu có khoa tuyển Tiến sĩ1, đến đời Đường Tống rất thịnh hành, nhân tài nối nhau xuất hiện, nền chính trị mở mang đầy đủ, sách vở còn ghi chép rõ ràng có thể tra cứu được.

Kính nghĩ liệt thánh triều ta, dựng nhà học, chuộng văn Nho, đặt khoa thi lấy học trò, mở nền thịnh trị thái bình muôn thuở. Sở dĩ có thể sửa sang thế đạo, tô điểm hoàng đồ, tôn cho vua được như Nghiêu Thuấn, khiến cho dân được như dân thời Đường Ngu, há chẳng phải do khoa mục chọn hiền tài mà đạt được hay sao?

Kính nghĩ Hoàng đế bệ hạ, sự nghiệp nối tiếp hai vua, truyền thống kế thừa bốn thánh, chăm lo học đạo, trăn trở cầu hiền. Bao nhiêu điều quan yếu trong phép trị đạo của các đế vương thuở trước, cách thức cầu tìm hiền tài, phép thi cử chọn người đều được quán triệt, mở mang, trau dồi thêm đẹp. Quy phạm nghiêm ngặt, xử trí chặt chẽ, lựa chọn kỹ càng, thật đã chu đáo hết mức vậy. Nhờ thế danh sĩ tụ hội rất đông, người tài tìm đến, lựa chọn được nhân tài hơn hẳn mấy đời trước. Kẻ sĩ gặp thời cá nước, được hội gió mây. Người được dự vào hàng thị tòng, người vào ban gián nghị, hoặc sung chức ở các bộ các ti vẫn nên giữ tiết trung thành, trau dồi đức hạnh, nuôi ý chí, gắng sự nghiệp, bắt chước Cao, Quỳ, Chu, Thiệu2, sánh hàng Hàn, Lục, Âu, 3, tiếng để đời mình, công dành hậu thế, trên không phụ thịnh ý triều đình cất nhắc, dưới không phụ ý chí hoài bão thường ngày. Được như vậy thì tấm đá này khắc ra, càng lâu càng thêm sáng vậy. Nếu như sau trước khác nhau, ngoài là ngọc mà trong là đá, hoặc học tà như Công Tôn, hoặc biến tiết như Nguyên Chân, hoặc nham hiểm như Đinh Vị, hoặc gian tà như An Thạch, những điều người ta đọc thấy không giống như dư luận người ta đã nghe, việc làm trái với điều đã học, thì người đời sau xem bia sẽ chỉ vào tên mà chỉ trích chê cười, ngàn năm sau, tấm đá này đã bị tì vết thì làm sao có thể mài rửa được?

Quyền vua phép nước ngời ngời, thanh danh giáo hóa nghiêm nghị, các bậc quân tử có thể nào lại không tự trọng hay sao!

Thượng thư Bộ Lễ, Gia hạnh đại phu Tả xuân phường Tả dụ đức kiêm Đông các Đại học sĩ Khuông nghĩa doãn Đàm Văn Lễ vâng sắc soạn.

Bia dựng ngày 10 tháng 11 niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502).

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:

LÊ ÍCH MỘC 黎益沐4 người xã Thanh Lãng huyện Thuỷ Đường phủ Kinh Môn.

LÊ SẠN 黎棧5 người xã Vạn Phúc huyện Thanh Trì phủ Thường Tín. 35 tuổi.

NGUYỄN VĂN THÁI 阮文泰6 người xã Tiền Liệt huyện Vĩnh Lại.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 24 người:

NGUYỄN CẢNH DIỄN 阮景演7 người xã Yên Tử huyện Tân Minh phủ Nam Sách.

NGUYỄN ĐỨC KHÂM 阮德欽8 người xã Uông Hạ huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.

NGUYỄN NHƯ CÔN 阮如琨9 người xã Trại Sơn huyện Giáp Sơn.

TRẦN DỰC 陳翼10 người xã Ngải Lăng huyện La Sơn.

LÊ VĂN HỌC 黎文學11 người xã Đông Tháp huyện Đông Thành.

HẠ NGỌC CHÚC 夏玉燭12 người xã Yên Duyệt huyện Chương Đức.

NGUYỄN NGẠN 阮彥13 người xã Yên Khoái huyện Phú Xuyên.

NGUYỄN VĨNH KIÊN 阮永堅14 người xã Yên Ninh huyện Cẩm Giàng.

ĐẶNG TUYÊN 鄧宣15 người xã Lạc Dục huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.

NGUYỄN BÁ TÙNG 阮伯松16 người xã Tạ Xá huyện Tứ Kỳ.

NGUYỄN ĐỐC 阮篤17 người xã Thổ Giá huyện Nông Cống.

VŨ BÁ DUNG 武伯庸18 người xã Thanh Giản huyện Đường An.

VŨ CÁN 武幹19 người xã Mộ Trạch huyện Đường An.

NGÔ VĂN HUY 吳文輝20 người xã Trâu Khê huyện Đường An.

TRƯƠNG ĐỨC QUANG 張德光21 người xã Ngọc Xuyết huyện Hoằng Hóa.

NGUYỄN CHƯỞNG 阮掌22 người xã Thanh Thủy huyện Tiên Phúc.

HOÀNG SĨ DỊCH 黃 士懌23 người xã Hoà Xá huyện Lương Tài.

NGUYỄN VĂN HIẾN 阮文獻24 người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại.

VŨ BÁ THẮNG 武伯勝25 người xã Tiêu Sơn huyên Yên Phong.

MAI ĐỨC BÁ 梅德霸26 người xã Thạch Lỗi huyện Thạch Hà.

NGUYỄN TỰ 阮敘27 người xã Vĩnh Mỗ huyện Sơn Vi.

ĐOÀN NHÂN THỤC 段仁淑28 người xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm.

BÙI DỤC TÀI 裴育才29 người xã [...] huyện Hải Lăng.

LÊ NHÂN TẾ 黎仁濟30 người xã Đại Nhuệ huyện Hoằng Hóa.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 34 người:

PHẠM KHIÊM BÍNH 范謙柄31 người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương.

NGUYỄN VĂN KIỆT 阮文傑32 người xã Mỹ Xá huyện Ngự Thiên.

NGUYỄN DUY MINH 阮維明33 người xã Thượng Cốc huyện Gia Lộc.

NGUYỄN KIM 阮金34 người xã Thạch Lựu huyện An Lão.

DOÃN MẬU KHÔI 尹茂魁35 người xã YênDuyên huyện Thượng Phúc.

NGUYỄN TỬ TRỌNG 阮子仲36 người xã An p huyện Hương Sơn.

CHỬ THIÊN KHẢI 褚天啟37 người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn.

LÊ DỰC 黎翼38 người xã Bối Khê huyện Thanh Oai.

ĐỖ VĂN HIỆU 杜文校39 người xã Hữu Quang huyện Yên Sơn.

HOÀNG TỬ NGHI 黃子儀40 người xã Công Luận huyện Văn Giang.

NGUYỄN VĂN HIẾN 阮文獻41 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng.

ĐINH TRINH 丁貞42 người xã Vị Khê huyện Thanh Lan.

ĐÀO NHƯ HỔ 陶如虎43 người xã Triều Đông huyện Thượng Phúc.

HOÀNG NHẠC 黃岳44 người xã Hoàng Xá huyện Đông Thành.

VŨ NGHI HƯỚNG 武宜向45 người xã Đại Vi huyện Tiên Du.

BÙI TÂN 裴新46 người xã Kim Bảng huyện Thiên Bản.

LÊ KIM CHƯƠNG 黎金璋47 người xã Thanh Mai huyện Yên Phong.

NGUYỄN THẾ MỸ 阮世美48 người xã Lang Khuê huyện Tiên Lữ.

NGUYỄN TRỌNG HƯNG 阮仲興49 người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại.

BÙI DOÃN CHÍNH 裴允正50 người xã Thắng Trí huyện Bình Tuyền.

PHẠM TRÁNG 范壯51 người xã Dũng Nhuệ huyện Giao Thuỷ.

TRẦN LƯ 陳驢52 người xã Bình Vọng huyện Thượng Phúc.

PHAN ĐÌNH MỤC 潘廷睦53 người xã Tây Hồ huyện Quảng Đức.

NGUYỄN XUÂN LAN 阮春蘭54 người xã Thì Mại huyện Bảo Lộc.

TRẦN HUYÊN 陳暄55 người xã Diên An huyện Kim Động.

LÊ HIẾU TRUNG 黎孝忠56 người xã Chi Nê huyện Chương Đức.

NGUYỄN ĐOAN 阮端57 người xã Thụy Chương huyện Quảng Đức.

LÊ ĐÌNH TƯỞNG 黎廷獎58 người xã Cao Mật huyện Kim Bảng.

ĐÀO THÚC VIỆN 陶淑院59 người xã Song Khê huyện Yên Dũng.

NGUYỄN VĂN ĐỆ 阮文弟60 người xã Yên Nhân huyện Chương Đức.

VŨ BÁ HUYÊN 文伯諠61 người xã Tùng Du huyện Gia Phúc.

MẠC VĂN UY 莫文威62 người xã Mạc Xá huyện Thanh Lâm.

NGUYỄN TỬ KIẾN 阮子建63 người xã Trạch Lôi huyện Thạch Thất.

NGUYỄN MẬU 阮茂64 người xã Du La huyện Thanh Hà.

Quang lượng đại phu Trung thư giám Điển thư Chính tự khanh Phạm Định vâng viết chữ (chân).

Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Chính khanh Nguyễn Toản vâng viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 9 niên hiệu Đại Chính năm thứ 7 (1536)65.

Chú thích:

1. Nguyên văn: “Thành Chu chi thời thủy hữu Tiến sĩ chi tuyển”, nhưng thực thì không đúng như vậy. Vì lịch sử khoa cử Trung Quốc đã ghi rõ từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc tuy có xét chọn người để cho học lên cấp cao hơn, nhưng phải đến đời Tùy Dạng đế (605-616) mới chính thức bắt đầu có khoa thi Tiến sĩ. (Xem Thương Diễn Lưu: Đại Thanh khoa cử pháp bị khảo, Bắc Kinh, 1958).

2. Cao, Quỳ, Chu, Thiệu: Cao là Cao Dao, Quỳ là Hậu Quỳ, hai vị danh thần đời Ngu Thuấn; Chu là Chu Công Đán, Thiệu là Thiệu Thích, hai vị hiền thần đời vua Võ Vương nhà Chu.

3. Hàn, Lục, Âu, Tô: tức là Hàn Dũ, Lục Chí, Âu Dương Tu và Tô Thức (Đông Pha). Bốn vị danh Nho của Trung Quốc.

4. Lê Ích Mộc (?-?) người xã Thanh Lãng huyện Thủy Đường (nay thuộc xã Quảng Thanh huyện Thủy Nguyên, Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Tả Thị lang.

5. Lê Sạn (1476-?) người xã Vạn Phúc huyện Thanh Đàm (nay là xã Vạn Phúc huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông giữ chức các chức quan, như Đề sát, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Lại và từng được cử đi sứ nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng tước Trung Huân bá. Có sách chép nhầm Lê Nga.

6. Nguyễn Văn Thái (1479-?) người xã Tiền Liệt huyện Vĩnh Lại (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Học sĩ, tước Đạo Xuyên bá và từng được cử làm Phó sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, ông ra làm quan cho nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước hầu. Ông từng được cử đi sứ phương Bắc hai lần, nhưng lần thứ hai bị giữ lại, rồi ông lấy vợ người Trung Quốc, sinh con là Ngạn Xán, theo họ mẹ là họ Trương. Trương Ngạn Xán sau này thi đỗ Tiến sĩ. Ông còn có tên là Nguyễn Trí Thái.

7. Nguyễn Cảnh Diễn (1447-?) người xã Yên Tử Thượng huyện Tân Minh (nay thuộc xã Khởi Nghĩa huyện Tiên Lãng Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lễ.

8. Nguyễn Đức Khâm (1470-?) người xã Uông Hạ huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

9. Nguyễn Như Côn (1481-?) người xã Trại Sơn huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã An Sơn huyện Thủy Nguyên Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Chính đoán sự.

10. Trần Dực (1465-?) người xã Ngải Lãng huyện La Giang (nay thuộc huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Hộ, Đông các Hiệu thư. Ông giỏi thơ phú quốc âm (chữ Nôm), thường dự các cuộc xướng họa thơ với vua, nhiều lần được khen thưởng.

11. Lê Văn Học (1470-?) người xã Đông Tháp huyện Đông Thành (nay thuộc xã Diễn Tháp huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Tự khanh. Có tài liệu ghi ông người xã Lỗi Tuyền. Bia Văn Miếu tỉnh Hưng Yên ghi ông người xã Mạt Lỗi huyện Đông Yên.

12. Hạ Ngọc Chúc (1479-?) người xã An Duyệt huyện Chương Đức (nay thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Hàn lâm viện Hiệu lý.

13. Nguyễn Ngạn (?-?) người xã Yên Khoái huyện Phú Xuyên (nay thuộc huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đô Ngự sử.

14. Nguyễn Vĩnh Kiên (1473-?) người xã Yên Ninh huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Cao An huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

15. Đặng Tuyên (?-?) người xã Lạc Dục huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ.

16. Nguyễn Bá Tùng (?-?) người xã Tạ Xá huyện Tứ Kỳ (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

17. Nguyễn Đốc (?-?) người xã Thổ Giá huyện Nông Cống (nay thuộc xã Tế Thắng huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Sau theo nhà Mạc, làm quan Tả Thị lang Bộ Lại. Khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Lễ.