Sách » Lịch Sử » Lịch sử Việt Nam » Bia Văn miếu

Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 13 (1752)

Hoàng triều trung hưng đã được 14 đời1, bốn biển yên bình, cơ đồ càng thêm vững chắc.

Kính vâng: Hoàng thượng quẻ Thái lập mệnh, đức Kiền giữ ngôi. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư Thượng phụ Minh vương] sáng công uy vũ, văn trị sáng ngời. Mùa đông năm Nhâm Thân thi Hội cho các Cống sĩ trong nước. Đô đốc Thiêm sự trí sĩ khởi phục ngũ lão Vinh Quận công Đặng Đình Trứ làm Đề điệu, Nhập thị Bồi tụngPhó Đô Ngự sử Bảo Lĩnh hầu Trần Danh Ninh làm Quyền Tri Cống cử, Bồi tụng Hàn lâm viện Thừa chỉ Đạo Phái bá Dương Công Chú làm Giám thí. Qua bốn trường, lấy trúng cách bọn Lê Quý Đôn 6 người.

Tháng 12 Điện thí. Ban cho bọn Lê Quý Đôn đỗ Cập đệ và Xuất thân có thứ bậc khác nhau. Lại sai khắc tên lên đá để truyền tới lâu dài.

Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Nhập thị Bồi tụng Hình bộ Tả Thị lang Tri Hàn lâm viện sự Bá Trạch hầu Nhữ Đình Toản2 vâng sắc soạn.

Tham tụng Thiếu bảo ngũ lão Thượng thư Bộ Hộ kiêm Đông các Hiệu thư Kiều Quận công Nguyễn Công Thái vâng sắc nhuận.

Bia dựng tháng hai niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14 (1753) Hoàng Lê.

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 1 người:

LÊ QUÝ ĐÔN 黎貴惇3 người xã Diên Hà huyện Diên Hà, Nho sinh trúng thức.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 1 người:

ĐOÀN NGUYỄN THỤC 段阮俶4 người xã Hải Yên huyện Quỳnh Côi, Nho sinh trúng thức, nguyên quán xã Đại Hạnh huyện Văn Giang, vốn họ Nguyễn, tên cũ là Đoàn Duy Tĩnh.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 4 người:

NGHIÊM VŨ ĐĂNG 嚴武璒5 người xã Kỳ Nhai huyện Thanh Lan, Sinh đồ, tên cũ là Nghiêm Vũ Chiêu.

NGUYỄN DIÊU 阮瑤6 người xã Hoàng Xá huyện Thư Trì. Giám sinh, tên cũ là Nguyễn Xuân Huyên.

TẠ ĐÌNH HOÁN 謝廷瑍7 người xã Đại Định huyện Thanh Oai, Giám sinh.

NGUYỄN XUÂN HUY 阮春暉8 người xã Quy Đông huyện Lương Tài, Tri phủ.

Chú thích:

1. Nhà Lê Trung hưng, từ Lê Trang Tông (1533-1548) đến Lê Ý Tông (1735-1740) sát trước đời Cảnh Hưng là 14 đời vua.

2. Nhữ Đình Toản: Xem chú thích 10, Bia số 67.

3. Lê Quý Đôn (1726-1784) hiệu là Quế Đường và tự là Doãn Hậu , người xã Diên Hoà huyện Diên Hà (nay thuộc xã Độc Lập huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông là con của Lê Trọng Thứ và giữ các chức quan như: Thừa chỉ, tước Dĩnh Thành bá; thăng đến chức Nhập thị Bồi tụng, Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Dĩnh Thành hầu; rồi bị giáng làm Thị lang Bộ Lễ, lại được bổ các chức Tham thị kiêm Trấn thủ xứ Thuận Quảng, Tả Thị lang Bộ Hộ, Đô Ngự sử, Tả Hiệu điểm Quyền Phủ sự, tước Nghĩa Phái hầu, Hiệp trấn Nghệ An và được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Công, gia tước cho ông là Dĩnh Quận công. Sinh thời Lê Quý Đôn có nhiều công trình nghiên cứu biên soạn, sáng tác nổi tiếng, học vấn văn chương của ông được cả người Trung Quốc và sứ thần Triều Tiên ca ngợi.

4. Đoàn Nguyễn Thục (1728-1783) người xã Hải An huyện Quỳnh Côi (nay thuộc xã Quỳnh Nguyên huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình), nguyên quán xã Đại Hạnh huyện Văn Giang (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Thống lĩnh Tây đạo, Phó Đô Ngự sử, Đốc thị Nghệ An, tước bá và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Ông vốn họ Nguyễn, tên cũ là Đoàn Duy Tĩnh.

5. Nghiêm Vũ Đăng (1730-?) người xã Kỳ Nhai huyện Thanh Lan (nay thuộc xã Thái Phúc huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hàn lâm viện Đãi chế. Ông vốn tên là Nghiêm Vũ Chiêu.

6. Nguyễn Diêu (1728-?) người xã Hoàng Xá huyện Thư Trì (nay thuộc xã Nguyên Xá huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hàn lâm viện Thừa chỉ, Thư Xuyên bá và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Hữu Thị lang. Ông vốn tên là Nguyễn Xuân Huyên.

7. Tạ Đình Hoán (1723-?) người xã Đại Định huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Cấp sự trung, Đốc đồng Tuyên Quang, tước Hoàng Khê bá.

8. Nguyễn Xuân Huy (1704-?) người xã Qui Đông huyện Lang Tài (nay thuộc xã Trung Chính huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Trước khi đi thi, ông làm Tri phủ, sau làm quan Đô Cấp sự trung, Đốc đồng trấn Sơn Nam.