Sách » Lịch Sử » Lịch sử Việt Nam » Bia Văn miếu

Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Đinh Sửu niên hiệu Chính Hòa năm thứ 18 (1697)

Trời mến hoàng gia, trung hưng nền trí trị, thần truyền thánh nối, khoa cử thịnh hành.

Kính nghĩ: Hy Tông Chương hoàng đế nắm cơ đồ sẵn có, khôi phục quy mô trị bình. Lúc bấy giờ nhờ có Chiêu Tổ Khang vương1 đem tài năng của bậc thánh, gánh trách nhiệm trọng đại của thiên hạ, một lòng tôn phù, thực thi nhiều phương kế để giữ nền thịnh trị, mở khoa thi lớn chọn hiền tài, ba năm một lần thi Hội. Mùa đông năm Đinh Sửu niên hiệu Chính Hòa thứ 18, bủa lưới cầu hiền, mở trường thi tài kén kẻ sĩ. Bấy giờ các cống sĩ các nơi dồn về như mây hợp, số ứng thí tới 3.000 người. Qua trường bốn, chọn được hạng ưu tú 10 người.

Tháng chạp vào thi Đình, Hoàng thượng đích thân ra bài hỏi về môn học tâm tính của con người.

Hôm sau, quan Độc quyển nâng quyển lên đọc, Hoàng thượng xem xét, định thứ tự cao thấp. Ban cho bọn Nguyễn Quyền, Nguyễn Trù đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Phạm Quang Huân 8 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Bộ Lễ rước bảng vàng treo ngoài cửa nhà Thái học. Ơn vinh ban cấp theo như phép cũ. Chỉ còn việc khắc bia đề tên thì lúc bấy giờ chưa kịp cử hành. Ý đợi ngày sửa sang làm sáng tỏ nếp cũ, vẻ vang người xưa, tất phải đợi đến ngày nay vậy.

Kính nghĩ: Hoàng thượng bệ hạ kế thừa ngôi cao vô hạn, khôi phục khuôn phép lâu dài. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư An vương] mở mang mưu lớn, giáo hóa chuyển dời. Phàm các điển chương chế độ đều chấn chỉnh khuếch trương, làm cho sáng sủa và lớn lao hơn trước. Khi đến thăm nhà Thái học, Vương thượng bèn sai truy dựng các bia Tiến sĩ từ năm Bính Thân về sau để cho khỏi thiếu sót. Lại sai các từ thần chia nhau soạn bài ký để truyền cho đời sau.

Thần giữ chức biên chép, không dám viện cớ vụng về nông cạn chối từ, cung kính cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:

Đặt khoa mục cầu tìm hiền tài là cốt để dựng nền thịnh trị, yết khoa danh lưu truyền mãi mãi là để tỏ lòng tôn trọng nền văn. Việc sùng Nho trọng đạo bởi lòng tốt của đấng minh vương, mà vật đủ văn đầy lại là nếp tốt của đời thịnh trị, há phải chỉ để khoe khoang mà thôi đâu. Kìa như quán Đăng Doanh trang hoàng lòe loẹt, đình Hàm Tượng tranh vẽ treo cao, đẹp thì đẹp thật nhưng chỉ có thể trang sức một thời, vẻ vang đời ấy mà thôi. Muốn tìm ra một việc mà từ xưa chưa có để lưu truyền danh thơm tới muôn đời, thì chưa có việc nào tốt đẹp như việc khắc đá đề danh của quốc triều ta.

Kính nghĩ: Thánh Tông Thuần hoàng đế, trong khoảng niên hiệu Hồng Đức, bắt đầu mở mang chế độ, chấn hưng Nho phong, đủ để khuyến khích nhân tài, duy trì giáo hóa, để lại cơ đồ đáng cho đời sau kế thừa. Các đời kế nối, tuân giữ chế độ thành pháp. Bia đá dựng lên, nhân văn càng thêm rực rỡ. Từ khi Trung hưng còn nhiều việc phải làm, nếp cũ chưa kịp chỉnh đốn. Đến đời Thần Tông Uyên hoàng đế, trong khoảng niên hiệu Thịnh Đức, phục hồi quy tắc chế độ, cổ vũ sĩ khí, làm rạng tỏ công đức của người xưa, mở đường tốt đẹp cho con cháu. Nhưng từ đó lệ cũ lại chưa được thi hành, lần lữa đến nay đã hơn 5 kỷ2Đến nay, Hoàng thượng vẻ vang kế thừa nghiệp lớn, mong muốn mở rộng mưu lược của đời xưa, coi là con đường tốt đẹp để trị nước, lấy tác thành nhân tài làm việc gấp. Bia đá lại dựng, trường học sửa sang, trên để dõi lòng sùng thượng của tổ tông, dưới để dấy chí hăng say của sĩ tử. Chế độ thái bình thịnh vượng lắm thay!

Kẻ sĩ may mắn sinh ra ở đời này, mừng gặp thời sáng, đội ơn tiên triều vẻ vang cất nhắc ngợi khen, nay lại được biểu dương nồng hậu, vậy phải nghĩ đền đáp thế nào? Ắt phải nguyện làm sao cho danh xứng với thực, nghĩ việc trước lo đến việc sau, giữ lòng trung ái, mài rèn đức hạnh liêm sỉ cho bản thân được như Cao, Tiết; vua mình được như Nghiêu, Thuấn. Nếu được như thế thì bia đá này, tên tuổi này càng lâu càng vẻ vang, càng xa càng nức tiếng vậy.

Còn nếu danh thực trái nhau, trước sau sai lệch, lo bon chen ganh ghét, theo thói dua nịnh, lòng chứa những chuyện tham lam nhũng nhiễu, ngậm miệng như bị đóng hàm, làm cho danh tiết bị nhơ bẩn, danh giáo bị ô nhục thì người đời sau tới xem, ắt sẽ chỉ vào tên mà khinh bỉ đức hạnh, công luận nghiêm buốt khó trốn, há chẳng xấu hổ lắm sao?

Thế thì bia đá này dựng lên thật có ý sâu sắc, sẽ làm cho rõ ràng xấu tốt, nêu cao sừng sững trước tai mắt mọi người, mài rèn danh tiết cho sĩ tử, bồi đắp nguyên khí của nước nhà, có quan hệ đến thế đạo, há phải nhỏ đâu!

Thần kính cẩn làm bài ký.

Cẩn sự Tá lang Hàn lâm viện Hiệu thảo Nguyễn Kiều3 vâng sắc soạn.

Tá lý công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ Thiếu phó Liêm Quận công Nguyễn Quý Đức vâng sắc nhuận.

Bia dựng ngày 2 tháng 3 niên hiệu Thịnh Đức thứ 13 (1717) Hoàng Việt.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 2 người:

NGUYỄN QUYỀN 阮權4 người xã Cổ Linh huyện Gia Lâm.

NGUYỄN TRÙ 阮儔5 người phường Đông Tác huyện Thọ Xương.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 8 người:

PHẠM QUANG HUÂN 范光勳6 người xã Hoàng Xá huyện Đông Quan.

TÔ THẾ HUY 蘇世輝7 người thôn Bằng Đắng huyện Bạch Hạc.

ĐÀO HOÀNG THỰC 陶黃實8 người xã Thượng Trì huyện Từ Liêm.

NGUYỄN阮瑋9 người xã Thạch Thán huyện Yên Sơn.

NGUYỄN XUÂN ĐÀI 阮春臺10 người xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì.

ĐỖ VIẾT HỒ 杜曰瑚11 người xã Xuân Phố huyện Lôi Dương.

NGUYỄN CÔNG CƠ 阮公基12 người xã Minh Cảo huyện Từ Liêm.

BÙI ĐĂNG ĐẠT 裴登達13 người xã Bân Xá huyện Thiên Lộc.

Thị nội Thư tả Thủy binh phiên Tướng sĩ lang Phó sở sứ người xã Phú Thị huyện Gia Lâm là Ngô Bảo vâng viết chữ (chân kiêm chữ triện).

Chú thích:

1. Miếu hiệu của Trịnh Căn.

2. Tức 60 năm.

3. Nguyễn Kiều: Xem chú thích 1, Bia số 44.

4. Nguyễn Quyền (1665-?) người xã Cổ Linh huyện Gia Lâm (nay thuộc thị trấn Sài Đồng quận Long Biên Tp. Hà Nội). Ông làm quan Lễ khoa Cấp sự trung.

5. Nguyễn Trù (1668-?) tự là Loại Phủ , người phường Đông Tác huyện Thọ Xương (nay thuộc quận Hoàn Kiếm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Hình. Sau khi mất, ông được tặng chức Tả Thị lang Bộ Công, tước Xương Phái hầu. Có tài liệu ghi ông hiệu là Loại Phủ.

6. Phạm Quang Huân (1652-?) người xã Hoàng Xá huyện Đông Quan (nay thuộc xã Đông Phương huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Tự khanh. Có tài liệu ghi sau ông đổi tên là Phạm Công Huân.

7. Tô Thế Huy (1666-?) người thôn Bằng Đắng huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Bình Dương huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tả Thị lang, tước Cảo Quận công và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc), sau bị giáng chức làm Thừa Chánh sứ An Quảng. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Công.

8. Đào Hoàng Thực (1670-?) người xã Thượng Trì huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Liên Hồng huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình, tước Phượng Quận công, rồi về trí sĩ. Sau lại ra làm quan giữ chức Tham tụng, Thượng thư Bộ Binh, được ban hiệu Quốc lão. Sau khi mất, ông được tặng chức Thiếu phó. Sinh thời, ông được Chúa Trịnh tin dùng và thường khen ông là bậc Ngụy Trưng, Lý Giáng (hai Tể tướng đời Đường ở Trung Quốc).

9. Nguyễn (1669-?) người xã Thạch Thán huyện Yên Sơn (nay là xã Thạch Thán huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Công khoa Cấp sự trung.

10. Nguyễn Xuân Đài (1670-?) người xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì (nay thuộc Đại Áng quận Hoàng Mai Tp. Hà Nội). Ông giữ các chức quan, như Tự khanh, Đốc thị Nghệ An. Sau khi mất, ông được tặng chức Hữu Thị lang Bộ Công. Có tài liệu ghi ông đổi tên là Nguyễn Công Kiên.

11. Đỗ Viết Hồ (1665-?) người xã Xuân Phố huyện Lôi Dương (nay thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tự khanh. Có tài liệu ghi ông là Đỗ Bạch Hồ.

12. Nguyễn Công Cơ (1676-1733) tự Nghĩa Trai , người xã Minh Cảo huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Xuân Đỉnh huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông là ông nội của Nguyễn Huy. Ông giữ các chức quan, như Hữu Thị lang Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Binh kiêm Tham tụng Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, sau chuyển sang chức võ, hàm Thiếu bảo, Thự Phủ dự, tước Cảo Quận công và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng hàm Thái phó.

13. Bùi Đăng Đạt (1673-?) người xã Bân Xá huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Hồng Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Giám sát Ngự sử, quyền Tham chính, Hiến sát sứ xứ Sơn Nam.