Sách » Tâm Lý » Bảy bước đến thành công

Chương I. Rèn lòng tự tín và rèn nghị lực

Bạn thường thấy một người đi chào khách hàng đi đi lại lại cả chục lần trước một hãng nọ, do dự hoài mà không dám vào để mời mua hàng. Mà người đó biết chắc rằng chỉ bị mời ra là cùng, chứ không ai đánh đập gì hết.
 
Vậy người đó do dự không phải vì thiếu can đảm mà thiếu lòng tự tín. Người đó không tin rằng mình đủ khéo léo để thành công trong bốn giai đoạn sau đây:
 
- Làm cho người mình mời có thiện cảm với mình và chú ý tới món hàng của mình.
 
- Giảng giải về những ích lợi của món hàng.
 
- Chỉ cho người mình mời thấy rằng món hàng đó hợp với nhu cầu của họ.
 
- Sau cùng, khéo nói sao cho họ mua.
 
Không tin sẽ thành công, cho nên không chào khách hàng mà lại kiếm lý lẽ để tự bào chữa. Hôm nay thứ hai, sáng thứ hai thiên hạ hay quạu, có mời mua chỉ tốn công. Hoặc hôm nay trời mưa, mà ngày mưa mình hay buồn bực, không tươi tỉnh, ăn nói không hoạt bát, không thành công được. Thôi, để lần khác, tuần sau chẳng hạn.
 
Thế là lỡ một cơ hội.
 
Nếu người đó, trái lại, có lòng tự tín, thì cứ tươi cười gõ cửa chào khách, khéo léo khen họ để họ có thiện cảm với mình, rồi tuần tự làm cho họ chú ý tới món hàng, hăng hái tả những tiện lợi của nó, dẫn dụ cho họ tin rằng nó hợp với nhu cầu của họ. Tin ở mình, ở món hàng mình mời mua thì chắc chắc là bán được, mà nếu không, thì ít nhất cũng gây được mầm tốt, lần sau sẽ hái quả.
 
Tự tín và có nghị lực là hai đức cần thiết cho sự thành công. Người nhút nhát mỗi khi thất bại, đáng lẽ phân tích sự thất bại đó, tìm nguyên nhân để sửa đổi, thì lại quá lo nghĩ, buồn tủi vì trót đã lầm lỡ để đến nỗi nghị lực nhụt đi, rồi tin rằng mình không sao thành công được hết.
 
Tức như một người lái xe hơi cho sát bờ đường, lần đầu vụng về để bánh trước đụng lề. Nếu người đó tự chê: “Mình dở quá, không biết đoán đúng bánh xe còn cách lề bao xa hết” rồi tự trách hoài thì không bao giờ lái xe giỏi được. Còn nếu người đó cho xe lại một đường vắng, ngừng xe khi thấy mũi xe vừa mới che khuất lề, xuống xe đo xem bánh trước bên mặt còn cách lề bao xa, đoạn tập lần lần thì chẳng bao lâu sẽ giỏi.
 
Vậy suy nghĩ, buồn rầu hoài nỗi lầm lỡ của mình, tức là diệt lòng tự tín; còn suy xét kỹ lưỡng nguyên nhân của thất bại là một cách để sửa lỗi và phát triển lòng tự tín.
 
TỰ TÍN LÀ GÌ?
 
Tự tín là tin ở năng lực của ta, tin nơi ta. Ông Gred Evans, ngày nay làm chủ phòng bán hàng cho một công ty lớn, nhưng hai tháng trước ông thất nghiệp. Lúc đó, gặp ông tôi hỏi:
 
- Ông đã xem xét kỹ nghệ làm phòng cách điện chưa?
 
Ông đáp:
 
- Tôi chưa biết chút gì về kỹ nghệ ấy.
 
Tôi khuyên ông để ý tới ngành hoạt động đó vì nó đương phát đạt, rồi chỉ cho ông vài nhà sản xuất chất cách điện.
 
Hai tháng sau, gặp ông thì ông đã làm chủ phòng bán hàng cho một công ty sản xuất chất cách điện rồi.
 
Ông sở dĩ thành công mau như vậy là nhờ:
 
1. Ông biết rằng muốn giàu, phải buôn bán, mà bán hàng không phải là một mánh khoé gian giảo. Hễ tin món hàng của mình tốt, giúp ích chắc chắn cho người khác, thì sẽ bán được nó. Nghĩa là phải tin ở mình, ở sự ích lợi của món hàng.
 
2. Ông lựa ba nhà sản xuất có danh tiếng nhất, nghiên cứu các mẫu hàng và cách bán của họ để phát triển lòng tin về phương pháp cách điện.
 
3. Ông đi xem những phòng đã được ba nhà đó áp dụng phương pháp cách điện để phát triển về lòng tin ở công việc.
 
4. Ông phỏng vấn những người chủ các phòng đó để biết ý kiến của họ, biết kết quả của phương pháp ra sao (mùa đông đỡ tốn bao nhiêu than; mùa hè phòng mát nhiều không). Như vậy là để phát triển lòng tin ở món hàng.
 
5. Ông nghiên cứu kỹ lưỡng rồi lựa chọn một nhà sản xuất, đề nghị bán hàng giúp họ với hoa hồng là bao nhiêu đó. Mới đầu còn lạ, ông kiếm không đủ ăn, nhưng luôn luôn ông tin ở lời mời khách của ông và tin ở món hàng ông bán là hoàn hảo, ích lợi cho nên chẳng bao lâu ông thành công.
 
Thấy ông tiến mau như vậy, tôi giới thiệu với ông một người khác, nhờ ông chỉ cho nghề bán chất cách điện. Người này cũng bỡ ngỡ, chưa biết chút chi hết, nhưng ông Evans khuyên cứ rán thử đi, rồi ông đưa cho người ấy một tấm danh thiếp, dặn sáng thứ hai trình diện với người bạn của ông ở một tỉnh gần đó, sẽ được người ta giúp cho. Mới cầm tấm thiếp, anh chàng kia đã hỏi ngay: “Làm sao đi tới tỉnh ấy được?”. Tôi bực mình, đáp: “Thì leo lên xe đò mà đi chứ còn gì nữa?”.
 
Tuần sao y trở lại, thú thật y nghĩ công việc đó không khá được, cho nên thứ hai không đi, sợ tốn tiền xe, đợi tới thứ tư gặp xe quen, không tốn tiền mới đi; nhưng thứ tư tới thì bạn ông Evans mắc việc, không tiếp được.
 
Tôi hỏi:
 
- Ông ta biểu thày ra sao?
 
- Ông ta biểu sáng thứ hai sau trở lại. Nhưng tôi nghĩ không biết chút gì về công việc ấy hết, có trở lại nữa, chỉ tốn mấy đồng bạc xe thôi.
 
Chàng thanh niên đó không tin mình, cũng không tin sẽ được người giúp, không tin ở hảng mình xin việc và chỉ tìm cách tự bào chữa mà không nghĩ tới nguyên nhân của sự thất bại để tránh. Ông Evans thành công mà y thất bại, khác nhau chỉ ở chỗ đó.
 
Nhưng tại sao ở đời có nhiều người thiếu lòng tự tín như vậy? Theo Alfred Adler, môn đệ của Freud, thì khi lọt lòng mẹ ra, loài người trần truồng như nhộng, yếu đuối không làm được việc gì hết. Tình trạng ấy ảnh hưởng đến tâm hồn ta, làm cho ta tự ti mặc cảm (complex d’infériorité). Cả những người rất tự tín nữa, nhiều khi cũng không tránh được mặc cảm đó và hoá ra sợ sệt. Tổng thống Abraham Lincoln kể chuyện khi ông tranh biện với Douglas, hai đầu gối ông run lên vì ông thiếu lòng tự tín. Chính vì ai cũng có tự ti mặc cảm cho nên ta càng phải luyện tập để tăng lòng tự tín của ta.
 
PHẢI TỰ XÉT MÌNH
 
Muốn làm công việc gì cũng phải biết:
 
- Bắt đầu từ đâu?
 
- Mục đích là gì?
 
- Làm sao đạt được mục đích đó?
 
Muốn luyện lòng tự tín phải theo ba giai đoạn ấy. Trước hết phải tự biết mình đã. Bạn biết rõ bạn không? Chắc chắn là có. Dù ai nói sao, bạn vẫn biết bạn nhiều hơn là người khác biết bạn. Lẽ tự nhiên như vậy. Nhưng sự hiểu biết của bạn về đích thân bạn có tổ chức không? Nghĩa là có thiếu sót lầm lẫn không? Bạn có biết rõ sở trường, sở đoản của bạn không? Sự hiểu biết đó phải được luyện tập, tổ chức, có hệ thống, có qui củ mới được.
 
Một phương pháp thực tế nhất để tự biết mình là tự hỏi nhiều câu hỏi rồi tự đáp lấy và so sánh những câu trả lời của mình với những câu trả lời của người khác để xem mình hơn hay kém người. Phải thường thường tự xét mình như vậy xem mình tiến hay thoái. Điều quan trọng nhất là phải hoàn toàn thành thật với mình, nghĩa là mình ra sao thì chép lại như vậy, đừng ghi những tài đức mà mình mới mong có chứ chưa có. Chỉ có như vậy mới tự sửa mình được thôi. Nếu bạn không hoàn toàn tin ở lòng thành thực của bạn – mấy ai đã tin được như vậy – thì nhờ một bạn công tâm xét bạn.
 
Dưới đây tôi chép lại một bảng có nhiều câu hỏi thu thập trong sách của nhiều nhà tâm lý gia để giúp bạn tự xét mình. Mới đọc qua, chắc bạn cho là là có nhiều câu thừa, nhưng kinh nghiệm đã cho tôi thấy rằng bảng đó rất có ích. Nó chẳng những giúp bạn phát triển lòng tự tín và nghị lực, rèn luyện nhân cách mà còn chỉ cho bạn biết phải luyện lòng tự tín với trình độ nào để đạt được mục đích bạn đã tự vạch.
 
Ông O. S. Marden nói: “Tự xét để biết rõ năng lực của ta thì mới có ích; còn nếu tự xét để an phận trong chỗ kém cỏi thì hại vô cùng”.
 
Vậy bạn phải coi bảng đó như một tên hướng đạo dắt bạn tới thành công, chớ đừng dùng nó để biết tại sao bạn thất bại. Nếu bạn thấy mình còn kém ở phương diện nào thì đừng cam tâm chịu cảnh kém cỏi đó mà phải hăng hái tu thân để tiến tới.
 
Có hai loại tự tín.
 
Nếu bạn muốn làm một người hoạt động, có cá tính dồi dào, bộc lộ, như một nhà doanh nghiệp, một viên giám đốc, một người bán hàng, luôn luôn giao thiệp với nhiều người thì bạn phải luyện lòng tự tín tới một trình độ rất cao, để đủ can đảm nhìn đời, thản nhiên nhận những bất mãn chua chát, yên lặng chịu những thất bại đau lòng, rồi lại chiến đấu nữa, vững như đá trong sự quyết định cũng như trong lòng tự tín. Còn nếu bạn muốn làm một nghệ sĩ hoặc một nhà bác học, nghĩa là bạn muốn sáng tác, tìm tòi, nghiên cứu thì bạn nên có lòng tự tín một cách vừa phải thôi, để có thể nhận định rõ ràng những nỗi khó khăn, những ngành mình sẽ thất bại và những ngành mình sẽ thành công chắc chắn.
 
Tóm lại, tự tín là điều kiện quan trọng nhất mà muốn tự tín thì phải biết mình.
 
108 CÂU HỎI ĐỂ TỰ XÉT MÌNH
 
Có thể trả lời những câu hỏi dưới đây, một cách rất gọn: “Có” hay “Không”. Tuy vậy, nên cho điểm như sau này:
 
- Nếu là ít lắm hoặc không bao giờ hết thì cho1 điểm
 
- Nếu ít hoặc hiếm có thì cho……………………2 điểm
 
- Nếu khá hoặc thường có cho…………………..3 điểm
 
- Nếu tốt hoặc rất thường có cho………………..4 điểm
 
- Nếu rất tốt hoặc luôn luôn có cho……………...5 điểm
 
Có 108 câu hỏi, vậy nhiều nhất là 540 điểm. Được 320 điểm cũng đã khá rồi. Mỗi tháng nên xét lại một lần và nhất quyết mỗi tháng phải tăng được một số điểm nào đó; tăng được 25 điểm thì đáng mừng.
 
1. Tôi hành động có nghị lực và quả quyết không?
 
2. Tôi có nhiệt tâm với người và chủ nghĩa không?
 
3. Tôi có tranh đấu cho địa vị khá hơn không?
 
4. Tôi có quyết định rồi theo đúng quyết định đó không?
 
5. Tôi có đòi hỏi ở tôi nhiều và làm thoả mãn những đòi hỏi đó không?
 
6. Tôi có tránh sự phí thì giờ, phí công, phí tiền bạc cho tôi và cho người khác không?
 
7. Tôi có tập trung tư tưởng để cương quyết làm việc, mặc dầu gặp sự quấy rối không?
 
8. Tôi có tránh thói tự bào chữa và đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh không?
 
9. Tôi có sáng kiến không?
 
10. Tôi có tài điều khiển không?
 
11. Tôi có tổ chức công việc của tôi không?
 
12. Tôi đáng được người trông cậy không? Tôi có giữ lời hứa không?
 
13. Tôi có óc tưởng tượng, biết ứng biến không?
 
14. Tôi có quyết theo những gương cao cả và có lí tưởng trong hành động không?
 
15. Tôi có tránh những nhượng bộ quá đáng không?
 
16. Tôi có sẵn sàng gánh vác trách nhiệm không?
 
17. Tôi có tránh tật tham lam, nhất là thói bủn xỉn không?
 
18. Tôi có giữ nhân phẩm của tôi không?
 
19. Tôi có giữ được bình tĩnh, cả những khi bực tức không?
 
20. Tôi có tránh sự khoe khoang không?
 
21. Tôi có tránh sự quá lố không?
 
22. Tôi có vui vẻ cả trong lúc khó khăn không?
 
23. Tôi có theo câu “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” không?
 
24. Tôi có khoan hồng với những ý kiến lỗi lầm của người không?
 
25. Tôi có tránh sự vênh váo, sự chán nản, sự nguỵ biện không?
 
26. Tôi có hiếu học không?
 
27. Tôi có can đảm về thể chất lẫn tinh thần để bênh vực tin tưởng không?
 
28. Tôi có ganh tị ghen ghét hay không?
 
29. Tôi có điềm tĩnh khi được người ta khen hay nịnh không?
 
30. Tôi có giữ vẹn tin tưởng và tư tưởng của tôi, không bị người khác hoặc ngoại vật ảnh hưởng không?
 
31. Tôi có điềm tĩnh trong lúc nguy kịch không?
 
32. Tôi có tránh được sự tự mãn, tự đắc không?
 
33. Tôi có tránh thói châm biếm vô ý thức không?
 
34. Gặp công việc không thích, tôi có làm ngay không cằn nhằn không?
 
35. Tôi có suy nghĩ kỹ rồi mới xét đoán không?
 
36. Tôi có tuỳ cơ ứng biến không?
 
37. Tôi có chống cự nổi sự quyến rũ không?
 
38. Tôi có tránh lòng oán giận, muốn trả thù không?
 
39. Tôi có tránh tinh thần chủ bại không?
 
40. Tôi có can đảm trước nỗi nguy không?
 
41. Tôi có tự chỉ trích không?
 
42. Tôi có tránh thói than thân trách phận không?
 
43. Tôi có rán tự tạo một nhân sinh quan rõ ràng và sống đúng theo đó không?
 
44. Tôi có sống trong hiện tại, chứ không sống trong dĩ vãng và tương lai không?
 
45. Tôi có chống cự những lời mời mọc của người bán hàng không? Có tránh sự dễ bị ảnh hưởng không?
 
46. Tôi có dễ thương không?
 
47. Tôi có chăm chú nghe người khác nói không?
 
48. Tôi có tập cho cử động của tôi được phong nhã không?
 
49. Giọng nói của tôi có uyển chuyển không?
 
50. Tôi có nói rõ ràng không?
 
51. Những cử động của tôi có vừa phải, có ý nhị không?
 
52. Tôi có tránh những cử chỉ và ngôn ngữ rởm làm cho người ta chán không?
 
53. Tôi có tránh sự dễ ngã lòng không?
 
54. Khi hẹn gặp ai tôi có mau mắn và đúng giờ không?
 
55. Lỡ lâm vào một cảnh ngộ lố lăng, tôi có vui vẻ để cho người cười nhạo tôi không?
 
56. Tôi có thật dùng hết tinh thần vào trò chơi hay công việc không?
 
57. Tôi có óc hài hước không?
 
58. Tôi có thể nói trước đám đông mà không rụt rè lúng túng không?
 
59. Tôi có tự túc không?
 
60. Tôi có tránh xen vào việc thiên hạ không?
 
61. Tôi có tránh sự độc đoán không?
 
62. Tôi có nhận lỗi của tôi không?
 
63. Lúc thua, tôi có giữ được thái độ quân tử không?
 
64. Tôi có biết hi sinh không?
 
65. Tôi có được con nít mến không?
 
66. Tôi có yêu thú vật không?
 
67. Trong sự giao thiệp, tôi có giản dị và tự nhiên không?
 
68. Tôi có tránh tính quạu quọ và biết làm cho những lời chỉ trích của tôi có ích lợi không?
 
69. Người khác có thích lại gần, làm quen với tôi không?
 
70. Tôi có giữ ý và tránh sự sỗ sàng không?
 
71. Tôi có tránh thói bắt người khác nghe mình, phục mình không?
 
72. Chữ tôi viết có dễ đọc không?
 
73. Tôi có tránh sự ăn nói thô lỗ, nhất là trong khi say không?
 
74. Tôi có tinh thần mã thượng (chevaleresque) và có phong nhã với đàn bà không?
 
75. Tôi có giữ phép xã giao nhã nhặn và nhớ những lời “cảm ơn ông”, “xin phép ông”… không?
 
76. Tôi có lịch sự trong khi mời mọc, giới thiệu không?
 
77. Trong bữa ăn, tôi có lịch sự, nhã nhặn không?
 
78. Nói chung, tôi có lễ độ không?
 
79. Tôi có sự quân bình trong tâm hồn không?
 
80. Tôi có tránh thói ti tiểu, nhất là trong vấn đề tiền nong không?
 
81. Tôi có tránh sự gây lộn không?
 
82. Tôi có đại lượng không?
 
83. Tôi có hiếu khách không?
 
84. Tôi có hành động theo tuổi tôi không?
 
85. Tôi có hành động theo phái (nam hay nữ) của tôi không?
 
86. Tôi có tránh thói đua đòi, phù hoa không?
 
87. Tôi có tránh những trò đùa nhả không?
 
88. Tôi có trả lời ngay những thư tôi nhận được không?
 
89. Tôi có tinh thần cộng tác với người không?
 
90. Tôi có quan tâm tới công dân sự vụ không?
 
91. Tôi có tinh thần xã hội, đặt công ích trên tư lợi không?
 
92. Tôi có bặt thiệt không?
 
93. Tôi có biết thưởng thức mỹ thuật không?
 
94. Tôi có biết thưởng thức âm nhạc không?
 
95. Tôi có theo kịp trào lưu văn nghệ không?
 
96. Tôi có rán tu bổ những khuyết điểm trong sự giáo dục của tôi không?
 
97. Tôi có đi coi tuồng và hoà nhạc không?
 
98. Tôi có sẵn sàng đón những ý mới không?
 
99. Tôi có khiêu vũ giỏi không?
 
100. Tôi có nói đúng giọng không?
 
101. Tôi có đọc báo chí có chính kiến rõ ràng không?
 
102. Tôi có học dễ dàng không?
 
103. Tôi có nhớ mau và bền không?
 
104. Tôi có thích đi du lịch không?
 
105. Tôi có luyện tập, dự bị trước khi làm công việc của tôi không?
 
106. Tôi có môn tiêu khiển nào sở thích không?
 
107. Tôi có hoạt động gì để sáng tác không?
 
108. Lời nói của tôi có đúng ngữ pháp không? Tôi có tránh những tiếng lóng không?

Ta nghiệm thấy rằng ta càng thành công bao nhiêu thì càng tự tín bấy nhiêu, còn nếu ta gặp toàn những thất bại thì lòng tự tín của ta mỗi ngày một tiêu ma. Vậy ta đừng đòi làm những chuyện lên cung trăng thăm chị Hằng để mà thất bại mà nhụt lòng tự tín. Câu phương ngôn: “Nếu bạn nghĩ rằng có thể thắng được thì bạn sẽ thắng” dùng để nung chí người ta thì rất tốt, nhưng trên thực tế, ta phải nhận rằng có những việc ta không thể nào làm được hết, dù lòng tự tín của ta mạnh tới đâu đi nữa.
 
Vậy muốn phát triển lòng tự tín, ta phải phát triển những thành công của ta, dù những thành công đó lúc đầu nhỏ nhen, cũng không hại. Mà muốn thành công, ta phải luyện những đức tính nó giúp ta thành công. Đó là qui tắc thứ nhất. Tôi xin nhắc lại:
 
Cách công hiệu nhất để phát triển lòng tự tín là phát triển những đức tính nó giúp ta thành công.
 
Có biết bao người thất bại vì công việc phải làm ngay thì họ luôn luôn để ngày hôm sau. Phải bắt đầu tiến ngay từ bây giờ. Ngay hôm nay ta phải tự tạo lấy một vận mạng. Nếu bạn làm một việc nhỏ mà thành công thì tiếp tục làm nó đi. Mỗi lần thành công, bạn lại tự tín một chút, rồi lần lần bạn làm được việc lớn hơn mà cũng thành công như vậy.
 
Có lần tôi nói với ông E. Hicks, tổng giám đốc một công ty lớn ở Nữu Ước, rằng ông ta có sẵn nhiều đức tính thành một diễn giả: những bộ tịch có thể lên diễn đàn được, một giọng nói rất tốt. Vậy chỉ còn việc tìm kiếm tài liệu cho bài diễn văn, mà công việc này không khác chi công việc ông làm hằng ngày ở hãng. Vậy nếu ông luyện những đức tính mà ông đã có sẵn đó thì ông sẽ thành công. Ông thú với tôi: “Không có gì làm tiêu mà lòng tự tín bằng một chuỗi thất bại liên tiếp. Trước khi biết lợi dụng những tài năng tôi có sẵn về nghệ thuật nói trước công chúng, tôi nhút nhát lắm và tìm đủ cách để khỏi phải nói trước đám đông”.
 
Vậy qui tắc thứ nhì là: Đừng vô lí mà đòi lên cung trăng. Hãy bắt đầu làm những công việc ta đã thành công, rồi tấn công những vấn đề khó khăn hơn. Như vậy để tập cho quen thành công đi.
 
Một thanh niên mới ở trường Trung học ra, lại hãng nọ xin một việc có thể lần lần đưa tới địa vị chỉ huy được, nhưng lại nhất định không chịu bán hàng. Phải khéo léo gạn hỏi, người đó mới chịu thú rằng đã thất bại cay đắng một lần rồi. Bán gì mà thất bại vậy? Bán một loại sách đắt tiền mà thanh niên ấy lại ít chịu gõ cửa từng nhà để chào khách. Thảo nào! Loại hàng đó khó bán nhất, phải có nhiều kinh nghiệm mới được. Người ấy thất bại mà mất lòng tự tín cũng phải.
 
Tôi giảng giải cho người đó hiểu rằng muốn tới một địa vị chỉ huy thì bắt đầu phải tập bán hàng, rồi cho người đó tập bán những món dễ bán để người đó thành công và phát triển lòng tự tín.
 
Vậy trước khi chạy phải tập đi đã.
 
Nhiều người mất lòng tự tín vì thấy mình không có tài làm việc vì hết. Thật ra thì ai cũng có tài trong một vài phương diện, không lớn thì nhỏ. Chẳng hạn bạn có thể đờn ca, kể chuyện, làm cho năm sáu bạn bè vui vẻ. Luyện tập lần lần, bạn có thể thành công với một số bạn đông hơn, mười, mười hai người, vài chục người… Và lòng tự tín của bạn cũng lần lần tăng lên.
 
Một cách thần hiệu để phát triển lòng tự tín là nói trước công chúng. Đọc được một bài diễn văn hùng hồn, bạn sẽ thấy bạn có một năng lực không ngờ, và ham được làm thủ lãnh, được gánh vác trách nhiệm quan trọng.
 
Ai cũng có thể tập diễn thuyết được. Có những sách chỉ cho bạn những nguyên tắc căn bản: nói làm sao, lên giọng xuống giọng ra sao, đi đứng làm sao, tay chân phải làm gì. Bạn nên mua về đọc và tập trong phòng của bạn, rồi kiếm cơ hội diễn thuyết. Nhưng xin bạn từ từ nhé. Lần đầu đừng nói trước một đám đông. Hãy lựa một cuộc họp thân mật ở nhà, ở hội, hoặc một cuộc bàn cãi ở hãng, ở sở, rồi lần lần sẽ ra trước những đám đông như ở trường, ở nhà thờ, hoặc trong một cuộc hội họp về chính trị.
 
Xin bạn đừng lo! Bạn sẽ không thất bạn! Vì diễn thuyết cũng như nói chuyện vậy, chỉ khác là trước một số đông người thôi. Chắc bạn còn nhớ câu chuyện của Démosthène ra bờ biển, ngậm sỏi trong miệng, tập diễn thuyết trước sóng biển mà rồi thắng được tật ngọng và thành một diễn giả hùng hồn nhất của nhân loại.
 
Lựa một công việc gì mà bạn chắc chắn thành công, rồi bạn sẽ thấy đời bạn thay đổi hẳn. Ông Mc Donald trước làm thợ, sau vì sức yếu phải nghĩ. Nằm hoài ở nhà, ông có cảm tưởng rằng mình hoá vô dụng và sống như vậy không khác gì chết. Bà vợ bèn khuyên ông ngồi buồn thử tô màu bức ảnh của một đứa cháu. Bà lại khuyên ông bắt chước vẽ lại một bức tranh sơn dầu nhỏ. Ông vẽ, thấy đẹp hơn bức tranh của người. Từ đó, ông thấy rằng ông thành công được, ông tự tín, sung sướng. Đời ông thay đổi hẳn.
 
Nhưng bạn nên nhớ: Muốn luyện đức tự tín, bạn phải chen vai thích cánh với nhiều người khác, giao thiệp với họ và phải quên mình mà nghĩ tới họ, nghĩ tới những cái họ muốn. Đó là qui tắc thứ ba.
 
Một người gặp vận rủi, sạt nghiệp, phải đi xin việc. Vì nghèo túng, người đó tiết kiệm từng chút một, cất hết những áo tốt, bận một bộ đồ thường đã lâu không bỏ giặt rồi đi kiếm bạn quen. Bạn bè đều nhã nhặn, nhưng ai cũng có ý tránh ông ta. Vì ông ta có vẻ hết thời rồi! Mà bản tính của loài người là ưa sự thành công, chỉ muốn hợp tác với những người có vẻ thành công thôi. Ông ta hiểu vậy, bèn thay đổi thái độ, phương pháp, lấy những áo tốt ra mặc, mua vài cà vạt mới, mang theo chiếc “can”, ra vẻ như người đang gặp vận may, đương thành công lắm. Khi lại thăm bạn cũ thì lại mỉm cười, nói rằng đã lâu mới lại chơi, chớ không phàn nàn rằng thất nghiệp và cậy họ giúp nữa. Bạn bè niềm nở chào đón, có người lại nhờ ông cho vài cách làm ăn. Người này hỏi, người kia hỏi, sau cùng ông được một bạn mời lại hợp tác.
 
Vậy ăn bận đàng hoàng có lợi lớn lắm, làm cho mình tin mình và người khác cũng tin mình. Một bộ áo mới chẳng thay đổi hẳn tư cách của người đàn bà đó sao? Nhưng như vậy không phải là cần ăn mặc cho thật đúng mốt và xa hoa đâu. Chỉ cần sạch sẽ và nhã nhặn thôi. Tất nhiên là móng tay, răng, tóc cũng quan trọng lắm, phải săn sóc cho được sạch và có vẻ đứng đắn.
 
Được vậy, bạn tiến một bước dài trên đường tự tín rồi đó.
 
Qui tắc thứ tư là: Săn sóc bề ngoài.
 
Nhưng bạn đừng quên rằng tiếng nói, cử chỉ, nét mặt, cách đi, cách đứng, cách ngồi cũng quan trọng không kém. Mà những cái ấy đều luyện tập được hết, trong những chương sau tôi sẽ bàn đến.
 
Sức khoẻ con người còn giúp ta có một lòng tự tín mạnh hơn sự ăn bận đàng hoàng nữa. Ai cũng biết, muốn giữ gìn sức khoẻ phải thỉnh thoảng nhịn ăm một bữa, luôn luôn ngủ cho đủ, luyện tập thân thể đều đều, đừng dùng những chất kích thích thần kinh, tập thói đi cầu cho đúng giờ và hễ khi đau thì đi bác sĩ ngay; nhưng mấy ai đã theo được đúng như vậy? Ta cần biết về cơ thể của ta, về các bệnh tật, nhưng ta đừng nên chữa lấy. Đừng lo quá về sức khoẻ, nhưng cũng đừng bỏ mặc cho bệnh nó tự hết. Cần đi khám bệnh thì phải đi liền.
 
Giáo sư Manuel nói: “Muốn tăng lòng tự tín, ta nên giao du với những người có lòng tự tín và tin ở ta; ta sẽ nhờ họ được nhiều lắm. Trái lại, một khoảng không khí đầy thất vọng có khi làm hại một cách đau đớn cả những nỗ lực tốt đẹp nhất”.
 
Nhiều người tin ở bạn thì rồi bạn cũng tin ở bạn. Có khi chồng thành công nhờ vợ quyết tín ở sự thành công đó, hoặc vợ thành công nhờ đức tín của chồng. Tình bằng hữu chân thật giữa những người bạn hiền là một trong những cách chắc chắn nhất để luyện lòng tự tín.
 
Vậy bạn nên giao du với những người thành công, vừa tin ở họ, vừa tin ở bạn. Đó là qui tắc thứ năm.
 
Nhưng cũng không nên tự tín một cách quá đáng, mà hoá ra kiêu hãnh vênh váo. Như vậy dù có thành công đi nữa cũng không bền. Khiêm tốn bao giờ cũng là mỹ đức.
 
TÓM TẮT
 
1. Phương pháp hay nhất để luyện lòng tự tín là luyện những đức tính nó giúp ta thành công.
 
2. Làm những việc đã thành công rồi để được quen thành công đi.
 
3. Săn sóc bề ngoài.
 
4. Giao du với những người quyết tín ở thành công.
 
5. Giao du với những người tin ở ta.
 
*
*        *
 
NGHỊ LỰC
 
Trong 10, 15 năm gần đây, người ta bàn nhiều về ý muốn thắng, tới nỗi ta tưởng chỉ cần nói: “Tôi muốn, tôi muốn, tôi MUỐN” là danh vọng, tiền bạc sẽ trút lên đầu, vào tay ta như trên Trời rớt xuống vậy.
 
Không có chi vô lý bằng. Nhưng có điều này chắc chắn là khi ý muốn được kích thích thì bất kỳ ai cũng có thể làm được những việc phi thường. Trong đại chiến thứ nhất có biết bao lần người ta thấy những đội quân kiệt sức, nằm lăn xuống đất, cất mình không nổi mà hễ nghe báo nguy là đều lanh lẹ, hăng hái đứng phắt dậy như đã được nghỉ ngơi lâu rồi. Tại sao vậy? Há chẳng phải nhờ cái ý muốn sống và chống cự với quân thù cho tới cùng sao?
 
NGHỊ LỰC LÀ MỘT NĂNG LỰC NÓ XÔ ĐẨY TA
 
Nghị lực tôi muốn nói đây không phải là lòng hăng hái nhất thời trong cơn nguy biến, nhưng là cái sức bất biết nó dắt dẫn ta hằng ngày trên đường đời và xô đẩy ta tới mục đích.
 
Nhiều người không tin rằng mình có nghị lực và có thể kiểm soát được nó. Hàng triệu người ở phương Đông tin ở Định mạng. Chẳng phải chỉ ở phương Đông mà thôi. Mới rồi, tôi diễn thuyết về nhân cách trong một lớp học buổi tối cho người lớn. Khi tôi diễn xong, một người đứng dậy nói: “Những điều ông khuyên để luyện tính khí áp dụng vào trẻ thì được, chớ người lớn thì vô hiệu”.
 
Tôi hỏi:
 
- Tại sao vậy?
 
- Tại một khi ta đã lớn rồi, ta không thể thay đổi tính khí cùng tạp quán của ta nữa.
 
Còn nhân sinh quan nào buồn chán hơn nữa không?
 
Nếu tôi chắc rằng không sao sửa được một thói xấu của tôi thì chỉ còn cách nhảy xuống sông cho rồi đời, sống làm chi nữa?
 
Vị giáo sư dạy lớp ấy nói với tôi rằng hầu hết thanh niên bây giờ có quan niệm ấy. Thực là tai hại. Thà họ đừng biết chút gì về tâm lý còn hơn là biết một cách lờ mờ, sai lầm, nguy hiểm như vậy. Họ không biết rằng ý muốn có hai thể: tĩnhđộng. Thể tĩnh hướng dẫn ta trong hành động, còn thể động giúp ta có năng lực và lòng kiên quyết.
 
Ông Charles M. Schwab nói: “Ta thành công nhờ nghị lực”. Chắc độc giả tự nhủ: “Đúng lắm! Nhưng tôi cũng có nghị lực mà vẫn nghèo túng đây”. Phải, có lẽ bạn có nhiều nghị lực thật, nhưng bạn có dùng nó không? và dùng nó vào việc gì? Nếu bạn chỉ dùng nó để bắt các em nhỏ im đi cho bạn đọc báo sau bữa cơm chiều (đó là thứ nghị lực tĩnh) thì không bao giờ bạn giàu có được hết. Nhưng nếu bạn dùng nó để học hành thêm, để thúc giục bạn trên một con đường đã vạch sẵn, tới một mục đích đã định sẵn (đó là thứ nghị lực động) thì bạn còn hi vọng đấy.
 
Một nhà doanh nghiệp có danh nói: Ta có thể làm tăng gắp đôi số lợi tức của ta bằng cách giản dị sau này: Việc gì phải làm thì làm ngay, việc gì không cần làm thì đừng làm.
 
Qui tắc đó rất đúng mà ít người theo. Bạn có lập một chương trình làm việc cho mỗi ngày không? Không. Mà nếu có, thì tôi chắc rằng đến tối, coi lại chương trình, bạn thấy còn nhiều việc bỏ dở. Bạn có nhiều lẽ để tự bào chữa lắm. Nào là ông B, một người bạn cũ lâu không gặp, lại thăm, phải bỏ ra một giờ để chuyện trò, nửa giờ để đãi ăn…
 
Nhưng tôi xin kể bạn nghe hai câu chuyện sau này: Ông hội trưởng một công ty quảng cáo phải mượn thêm một thầy thư ký để giúp việc viên chủ sự của ông tên Jones, vì ông này làm tối tăm mặt mũi suốt ngày mà không xong việc, công việc luôn luôn bê trễ. Hỏi tại sao như vậy thì ông Jones đưa ra những lý lẽ nghe cũng xuôi lắm. Nhưng thầy thư ký mới tới làm việc một cách khác, lập một chương trình, theo đúng chương trình ấy, việc nào phải làm thì làm ngay, việc nào không cần thì bỏ đó, lúc khác làm. Sau vài năm, người ta không cần dùng ông Jones nữa và đưa thầy này lên thay.
 
Viên chủ sự một hãng khác làm việc 18 giờ một ngày mà vẫn không hết việc, lại còn mắc bệnh thần kinh suy nhược. Khi hết bệnh, ông nghĩ được một cách làm việc khác. Ông xem xét lại mọi việc, việc gì phải đích thân làm thì ông làm ngay, còn việc gì có thể giao cho người khác thì kiếm người giao cho. Từ đó ông thành công.
 
Hai chuyện ấy chứng minh rằng muốn thành công phải có nghị lực làm ngay những việc cần làm và đừng phí sức, phí thì giờ làm những việc ta không cần làm. Và khi ta đã vạch con đường đi rồi thì đừng thay đổi nó nữa.
 
RÈN NGHỊ LỰC CÁCH NÀO?
 
Nghị lực, cũng như bắp thịt, có thể luyện tập, phát triển được. Trước hết, ta nhận thấy rằng hễ ta mạnh khoẻ thì nghị lực cũng tăng lên. Vậy luyện tập cho thân thể mạnh mẽ tức đồng thời luyện lòng tự tín và rèn nghị lực. Trong một phần sau, tôi sẽ chỉ bạn cách luyện tập thân thể.
 
Chắc bạn đã biết có nhiều phương pháp thần bí để rèn nghị lực. Chẳng hạn như tập trung tư tưởng vào một ý nghĩ, một hình ảnh nào đó. Theo phái Du già (Yoga) ở Ấn Độ, trong khi tập trung tư tưởng phải ngồi theo một kiểu nhất định và phải thở đều đều…
 
Ta khó mà xét được những cách tu luyện ấy có ích lợi hay không. Phải nghiên cứu kỹ lắm trước khi chỉ trích khoa học huyền bí vì ta phải nhận rằng có nhiều người theo phương pháp thần bí mà kết quả rất mỹ mãn.
 
Nhưng có điều là phương pháp đó khó khăn và lâu có kết quả, không dễ dàng như người ta tưởng. Vả lại rất khó kiếm được thầy chân chính vì không dễ gì phân biệt được ngay với gian, vàng với thau.
 
Dù sao, khoa thần bí cũng dạy ta được điều này là nếu ta cứ đúng thời hạn nào đó, chú ý ta, tự xét ta, thì chắc chắn có kết quả.
 
Tôi đã nói phương pháp công hiệu nhất để luyện lòng tự tín là bắt đầu làm những việc nhỏ và dễ. Muốn luyện nghị lực, ta cũng phải theo phương pháp ấy, nghĩa là phải bắt đầu muốn làm và làm cho được những việc nhỏ nhặt, dễ dàng.
 
Nhưng sự kiên tâm còn quan trọng hơn nữa. Phải đều đều ngày nào cũng tập. Những lúc vui, thấy cao hứng mới tập thì ích lợi không mấy. Nhưng lúc không muốn tập mà rán tập cho được mới ích lợi nhiều. Ba lối tập dưới đây, được nhiều người theo và thấy kết quả.
 
1. Đặt trở lại trong hộp 100 cây quẹt (que diêm) hoặc 100 miếng giấy. Làm từ từ, đều đều và chú ý tới công việc. Phải tập lâu lắm mới được.
 
2. Khoanh tay đứng trên một chiếc ghế trong năm phút. Như vậy có vẻ như thằng điên, nhất là khi có ai trông thấy. Nhưng nếu bạn rán giữ đúng điệu bộ ấy, mặc dầu có người phá thì bạn chắc chắn đã làm chủ được nghị lực của bạn rồi đó.
 
3. Đếm đi đếm lại lớn tiếng trong năm phút vài chục vật nhỏ.
 
Những công việc ấy có vẻ vô ích, khó chịu, kỳ cục, nhưng chính nhờ vậy mà có ích. Nếu vui thì ai làm chẳng được. Công việc có chán mà rán làm được mới là có nghị lực.
 
Bạn có thể tìm lấy những công việc khác tương tự như vậy. Nên làm một công việc trong 10 ngày liên tiếp rồi qua công việc khác.
 
Ông William Mc Dougall khuyên nên lựa những việc gì trái với xung lực tự nhiên (impulsion), với thói quen thâm cố của ta, như: đừng ăn món mà ta thích nhất nữa, sáng thức dậy, đừng nằm ở giường, nhảy ngay xuống sàn, nhịn hút thuốc trong một thời gian…
 
Thức dậy nhảy ngay xuống sàn là cách luyện nghị lực rất công hiệu vì thái độ của ta lúc đó ảnh hưởng đến thái độ của ta suốt ngày. Những người hoạt động đều có thói quen tốt đó.
 
Khi hành động thành thói quen, rất khó nhổ rễ nó. Tập diệt nó cho kỹ được tức là rèn nghị lực. Lúc mới đầu mất nhiều công phu, nhưng rồi dễ lần lần, cho nên dù việc nhỏ tới đâu đi nữa, cũng phải dùng hết nghị lực làm cho lần đầu có kết quả liền.
 
Nhưng khi thành công được nhiều lần thì việc ta làm sẽ trở nên một tạp quán khác. Lúc đó ta phải tự nhủ: “Ta làm việc này vì muốn như vậy chứ không phải vì thói quen như vậy”. Vì khi một hành động đã thành thói quen thì nó lại làm hại nghị lực của ta.
 
Sau cùng, bạn nên nhớ: tập bỏ thói xấu không bằng luyện được một tạp quán tốt. Vậy xin bạn đừng nói: “Tôi không bi quan nhìn đời qua cặp kính đen nữa”, mà nói: “Tôi muốn lạc quan, tôi muốn tìm cảnh rực rỡ trong đời tôi và tôi sẽ gặp”. Như vậy bạn sẽ quên những tư tưởng hắc ám mà dùng hết tâm trí tìm những niềm vui vẻ, những cảnh rực rỡ.  
 
Một ý muốn mạnh mẽ có đặc điểm này là giúp ta có sáng kiến và biết sáng tạo. Sáng kiến không cần nhiều nghị lực bằng sáng tạo. Mà ai cũng có tài năng sáng tạo, không nhiều thì ít. Đã đành không phải ai cũng có thể thành những Beethoven, Raphael hay Shakespeare nhưng ít gì ta cũng có một chút tài như: nói trước công chúng, hoặc tài vẽ, sơn, khắc… Vả lại trong những công việc thường như làm vườn, đóng bàn ghế, ta cũng có thể sáng tạo được. Ta nên lựa một hoạt động nào hợp với sở thích của ta rồi dùng hết tâm lực để sáng tạo, như vậy ta vừa luyện lòng tự tín, vừa luyện nghị lực nữa.
 
Tôi khuyên các bạn nên tập diễn thuyết; trong khi soạn diễn văn, ta phải sáng tác, nhờ đó mà rèn nghị lực và khi thành công, lòng tự tín của ta thăng lên rất nhiều.
 
Muốn rèn nghị lực, ta nên tập tánh quả quyết. Bọn “trí thức” thường do dự, vì họ có óc khoáng đạt, khoan hồng, lại biết nhiều phương tiện của một vấn đề, khó lựa được một đường, thành thử nhút nhát, ít hoạt động. Điều đó rất hại.
 
Có lẽ suy nghĩ quá làm tê liệt sức hoạt động thật, nhưng có thể điều hoà suy nghĩ và hoạt động được. Tức như gương tổng thống Franklin D. Roosevelt. Trước khi quyết định, ông điều tra kỹ lưỡng, hỏi ý mọi người, nhưng một khi kiếm được giải pháp, ông cương quyết thi hành đúng. Dù ông có lầm lỡ, người ta cũng vẫn trọng ông vì nhận rằng thà như vậy còn hơn là nhu nhược quay cuồng chung quanh điều phải mà không dám làm.
 
Ông Fenton khuyên ta đặt vấn đề cho rõ ràng, suy xét cẩn thận, biên ra một bên những lẽ bên vực, rồi biên ở bên kia những lẽ chống lại giải pháp ta chọn. Nếu như vậy mà còn do dự thì quên hẳn vấn đề đó trong vài ngày đi. Nhưng một khi đã quyết định rồi thì đừng đổi ý nữa. Đừng nghĩ ngợi thêm mà hoá ra do dự, lo lắng và mất thì giờ.
 
Lời khuyên đó rất xác đáng. Nhưng tôi cũng khuyên thêm bạn điều này nữa. Bạn nên kiếm thật nhiều tài liệu thu thập nhiều ý kiến, nhưng phải quyết định lấy. Đã đành lời khuyên của những người có kinh nghiệm là đáng quí, nhưng có những người đó thì cũng chỉ nghe vì họ có lý chứ không phải vì họ có uy quyền hơn ta. Nếu không thì lần lần ta thành cái thói uỷ mị, không quả quyết, việc gì cũng phải hỏi người.
 
Phải dự bị trước khi bắt tay vào việc. Việc nhỏ thì sửa soạn ít, việc lớn thì sửa soạn nhiều.
 
Khi đã dự bị kỹ lưỡng, thì ta chắc chắn làm được và không thấy khó khăn nữa. Sửa soạn như vậy cũng là một cách rèn nghị lực và lòng tự tín.
 
Ông Norman Fenton khuyên ta nên đặt danh dự vào điều này: Hễ đã muốn làm thì làm cho kỳ được, mà đã không muốn làm thì đừng làm.
 
Ông Robert S. Woodworth trong cuốn “Tâm lý học” lại khuyên ta:
 
1. Vạch rõ mục đích và rán đạt được nó để cho nghị lực của ta dồn cả vào đó, không tản mát ra, mà nhờ vậy được mạnh lên.
 
2. Theo dõi những tấn bộ của ta. Bảng 108 câu hỏi trên kia giúp bạn biết rõ bạn. Bạn cũng nên lâu lâu so với những người có tài năng để biết năng lực của mình.
 
3. Dùng nghị lực vào những việc ta thích làm vì lòng ham muốn giúp ta dễ chú ý. Nhưng những công việc đó phải cao thượng. Nên lấy gương một danh nhân nào mà bạn hoàn toàn ngưỡng mộ để rán noi cho được.
 
4. Phải nghiêm trang. Một chút hài hước thì nên, mà nguỵ biện thì đừng.
 
Nhưng bạn nên nhớ phải rèn nghị lực đều đều, hoặc một giờ, hoặc nửa giờ mỗi ngày. Có thể chép một cách thành thực những tư tưởng, hành động của ta vô nhật ký; hoặc vừa đi chơi một nơi thanh tĩnh, vừa tự xét mình.
 
TÓM TẮT
 
1. Luyện tập và giữ gìn thân thể cho được khoẻ mạnh.
 
2. Bắt đầu làm những việc nhỏ đã.
 
3. Luyện năng lực sáng tạo.
 
4. Luyện tính quả quyết. Tập quyết định lấy, đừng hỏi ý người khác, nếu không cần.
 
5. Sửa soạn trước để sẵn sàng trong mỗi công việc.
 
6. Nên đặc danh dự vào điều này: việc nên làm hoặc phải làm thì làm cho kỳ được.
 
7. Vạch rõ mục đích rồi rán đạt tới.
 
8. Theo dõi những tiến bộ của ta.
 
9. Ganh đua với những người có tài năng.
 
10. Bắt đầu luyện nghị lực của ta trong những công việc mà ta thích.
 
11. Noi gương một danh nhân.
 
12. Phải nghiêm trang. Một chút hài hước thì nên, mà nguỵ biện thì đừng.
 
13. Mỗi ngày có một thì giờ nhất định để tự xét mình.