Sách » Việt Nam » Việt Nam môi trường và cuộc sống

Một số vấn đề thời sự về tài nguyên và môi trường ở nước ta

Lũ lụt ở nước ta có xu thế diễn biến như thế nào trong thời gian tới?

Có xu thế tăng về tần số, về cường độ cũng như về quy mô.

Về tần số, lũ lớn xuất hiện trên Đồng bằng sông Cửu Long ngày một dày hơn. Thống kê 76 năm quan trắc (1926 - 2002) tại Tân Châu, có 31 năm cho Hmax > 4,50m với tần suất là 31/76 = 40,8%, trong khi 12 năm gần đây (1991 - 2002) có 6 năm với tần suất 50%. Đặc biệt có 3 năm liên tiếp (2000 - 2002), Hmax = 4,94 - 5,22 m. Trên sông Hương, trong 25 năm quan trắc (1976 - 2000) có 9 năm xuất hiện lũ có Hmax > 4,00m, riêng 12 năm (1989 - 2000) đã có 7 năm lũ cao hơn mức đó. Đặc biệt có trận lũ lịch sử 1999 tương ứng với chu kỳ lặp lại trên 200 năm. Trên sông Đà tại Hòa Bình, thống kê 100 năm quan trắc có 11 năm (tần suất 11%) xuất hiện lũ Q > 13.000 m3/s, riêng 10 năm (1990 - 1999) đã có 3 năm lũ lớn như vậy (tần suất 30%). Đặc biệt có trận lũ lịch sử 1996 tương ứng với chu kỳ lặp lại trên 100 năm.

Về cường độ, cũng lấy ba con sông trên làm thí dụ thì lũ lịch sử, cả về đỉnh lẫn lượng, đều xuất hiện trong 10 năm gần đây: ở Đồng bằng sông Cửu Long là lũ năm 2000, ở sông Hương là lũ năm 1999, ở sông Đà là lũ năm 1996. Nguyên nhân cường độ lũ ngày càng tăng có thể là:

 

Khung II.4. MIỀN TRUNG - LŨ CHỒNG LÊN LŨ

  • Ninh Thuận: Thiệt hại nặng về người và của.

  • Khánh Hòa: Lốc xoáy làm sập 28 ngôi nhà.

  • Phú Yên: 3 người chết, tàu bị cuốn trôi ra biển,...

Tống tiễn trận lũ lớn vừa qua chưa được bao lâu, Bình Định và các tỉnh Nam Trung Bộ lại phải "đón" một cơn lũ khác, cũng không kém phần dữ dằn như trận lũ trước. Báo cáo nhanh của các ban phòng chống lũ bão Bình Định, Khánh Hòa, đến Ninh Thuận cho biết, đến 16 giờ ngày 13-11, đã có 13 người chết, mất tích, hàng trăm ngôi nhà bị sập hoàn toàn. Vậy là, lũ đã chồng lên lũ, tang tóc chồng lên tang tóc.

Tại Ninh Thuận mưa kéo dài trong hai ngày 12 và 13-11, đã gây ngập lụt trên 20.000 ha đất sản xuất, nuôi tôm. Ước tính thiệt hại ban đầu trên 10 tỷ đồng. Các xã An Hải, Phước Hải, Phước Sơn (huyện Ninh Phước), Xuân Hải (Ninh Hải) cùng hai huyện Ninh Sơn và Bác Ái dường như bị cô lập hoàn toàn, các tuyến giao thông liên xã, liên tỉnh Ninh Thuận - Lâm Đồng,... bị chia cắt. Theo báo cáo nhanh của Ban chỉ đạo Phòng chống bão lũ cho biết: tính đến 13 giờ ngày 13-11, mực nước các sông vượt trên mức báo động 3 là 0,12m (nước dâng cao trên mức lũ lịch sử xảy ra vào năm 1986 là 0,22m). Ở xã Phước Sơn (huyện Ninh Phước) có 70 hộ đang bị kẹt trên các ụ đất cao, trông chờ lực lượng cứu nạn. Đoạn đường sắt chạy qua xã Xuân Hải (huyện Ninh Hải) có 115m bị ngập nước từ 1 - 1,5 m, nên từ lúc 4 giờ 55 phút sáng ngày 13-11-2003 ngành đường sắt đã cho dừng tàu lại. Hiện Ninh Thuận đã có 7 người chết, 7 người bị thương, thiệt hại nặng nhất là huyện Ninh Phước - có đến 4 người chết. Trạm cung cấp điện cho khu vực thị xã Phan Rang Tháp Chàm bị ngập nước ở mức báo động khẩn cấp và có khả năng không cung cấp điện vào những ngày tiếp theo.

 

Nguồn: Báo Lao động, ngày 14-11-2003  

 

  • Bão và áp thấp nhiệt đới có xu thế ngày càng tăng về cả tần số lẫn cường độ. Theo thống kê 70 năm, 1891 - 1960, trung bình mỗi năm có 3,97 cơn bão đổ bộ vào bờ biển Việt Nam . Song trong 40 năm gần đây, 1961 - 2000, trung bình mỗi năm xuất hiện 6,30 cơn bão. Bão lớn trên cấp 10 xuất hiện ngày càng nhiều, mức nước dâng do bão vượt 2,00m chiếm tới 11% tổng số cơn bão.

  • Hiện tượng El Nino, La Nina làm tăng tính khốc liệt của lũ và hạn. Tần số xuất hiện của hiện tượng này ngày một tăng. Trước đây, chu kỳ của El Nino và La Nina thường là 15 đến 20 năm, thì nay chỉ khoảng 2 đến 8 năm. Cường độ và tác hại của El Nino và La Nina ngày một nghiêm trọng. Ví dụ năm 1997 - 1998, El Nino kéo dài 13 tháng, gây ra những đợt mưa cực lớn ở California, Hồng Công, Quảng Nam, lụt lội trầm trọng ở Pêru, vòi rồng và lũ lụt ở các bang Đông Nam Hoa Kỳ, hạn hán và cháy rừng ở Inđônêxia, ở nước ta hạn nặng ở miền Trung; Đồng bằng sông Cửu Long "không có lũ", Hmax tại Tân Châu chỉ đạt 2,81cm thấp nhất trong 77 năm quan trắc.

Về quy mô tổn thất do lũ ngày càng nặng nề. Ở Đồng bằng sông Cửu Long lũ năm 1996 có 217 người chết, thiệt hại 2.182 tỷ đồng. Lũ năm 2000 có 48 người chết, thiệt hại 3.962 tỷ đồng. Vùng ven biển miền Trung các trận lũ diễn ra từ 1971 đến 1990 đã làm chết và mất tích 2.800 người, thiệt hại 3.400 tỷ đồng. Trong các năm 1992 - 1999 các trận lũ đã làm chết 2.716 người, thiệt hại 8.063 tỉ đồng.

 

Nguồn nước ngầm của nước ta sẽ biến đổi như thế nào trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa?

Nước ta có nguồn tài nguyên nước ngầm khá phong phú. Tính đến năm 1999 trữ lượng nước ngầm được điều tra đánh giá và xét duyệt ở trên một trăm mỏ nước là 1.675.930 m3/ngày ở cấp công nghiệp (A+B) và 12.855.616 m3/ngày ở cấp triển vọng (C1+C2). Do lượng nước ngầm phân bố không đều, khai thác tùy tiện, không theo quy hoạch, không quản lý chặt chẽ, ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường còn thấp nên trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đã làm tổn hại nặng nề đến tài nguyên nước ngầm. Tại nhiều vùng nước ngầm đã bị nhiễm mặn không thể tiếp tục khai thác, nhiều nơi khác đã có các biểu hiện nhiễm bẩn một số thành phần, kể cả một số nguyên tố độc hại như As, Hg.

Theo các dự báo, trên phạm vi Đồng bằng sông Hồng, đến năm 2010 dân số có thể đạt tới 20.000.000 người là vùng có mật độ dân cư lớn nhất trong cả nước. Nhiều đô thị, khu công nghiệp lớn và vừa sẽ hình thành: Hà Nội với khoảng 3.500.000 dân; Hải Phòng, 2.000.000; Nam Định, 300.000; Hải Dương, 120.000; Hà Đông, 100.000; Thái Bình, 100.000; Ninh Bình, 100.000; Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Ninh mỗi thị xã xấp xỉ 100.000 người. Tại các vùng lân cận thành phố Hạ Long sẽ có 500.000 dân; Việt Trì, 200.000; Bắc Giang, 110.000; Vĩnh Yên, Sơn Tây cũng xấp xỉ 100.000. Đa số các thành phố, thị xã này và các khu công nghiệp lân cận đều sử dụng nước ngầm làm nguồn cấp nước. Lượng nước ngầm cần cung cấp cho các đô thị và khu công nghiệp có thể lên tới 1.252.700 m3/ngày.

Vùng Đông Nam Bộ có nhiều đô thị lớn, khu công nghiệp và khu chế xuất tập trung. Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có dân số dự kiến khoảng 7.000.000 người vào năm 2010; Biên Hòa, 500.000; Vũng Tàu, 350.000; Phan Rang, Phan Thiết, Tây Ninh, Thủ Dầu Một sẽ có từ 250.000 đến 300.000 người cho mỗi thành phố. Mật độ dân số vùng này chỉ kém Đồng bằng Bắc bộ. Trên phạm vi Đông Nam bộ hiện đã hình thành 43 khu công nghiệp và chế xuất với tổng diện tích lên đến 8.263ha. Đông Nam Bộ cũng là nơi có nhiều thuận lợi cho phát triển cây lương thực, cây công nghiệp. Nước ngầm vùng Đông Nam Bộ tương đối phong phú và có chất lượng không đều và có thể cấp nước cho ăn uống sinh hoạt. Cũng như ở Đồng bằng sông Hồng việc khai thác nước ngầm ở Đông Nam Bộ sẽ được đẩy mạnh hơn và các tác động đến nước ngầm cũng sẽ mãnh liệt hơn do chất thải, phân bón, khai thác khoáng sản và do các hoạt động xây dựng. Một số nơi còn chịu các di chứng của chiến tranh để lại.

Ở các vùng khác như Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Trung Bộ và miền núi phía Bắc sẽ có gia tăng yêu cầu cung cấp nước ngầm tương tự cho nông nghiệp, công nghiệp, đô thị và nông thôn với những mức độ khác nhau.

Nhìn chung, trong phạm vi cả nước, về lượng, nước ngầm sẽ phải khai thác nhiều hơn, phổ biến hơn; về chất, nguy cơ ô nhiễm nước ngầm do chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp sẽ tăng thêm nhiều. Tình trạng đó đòi hỏi phải sử dụng hợp lý hơn, bảo vệ nghiêm ngặt hơn nguồn nước ngầm của nước ta. Cụ thể là cần thực hiện ngay quy hoạch tổng thể và chi tiết các nguồn nước, trong đó có nước ngầm, theo các lưu vực và địa phương; xác định rõ nguồn cấp, phương thức cấp, mức cấp và địa điểm lấy nước để cung cấp cho các nơi dùng nước, trên cơ sở đó điều tra, khảo sát chi tiết về khả năng cung cấp, xác lập các phương thức khai thác và các biện pháp bảo vệ nguồn nước ở những địa điểm đó. Trên phạm vi nguồn cấp, tuyệt đối không được xây dựng các công trình chôn lấp chất thải, không được sử dụng các hóa chất độc hại, không được xây dựng các công trình gây tổn hại đến nguồn nước, bảo vệ và phát triển các công trình có khả năng làm tăng nguồn nước ngầm như rừng, hồ chứa nước.

 

Hạn hán ở Tây Nguyên bao giờ có thể khắc phục?

Tây Nguyên là một vùng lãnh thổ gồm 5 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Tổng diện tích tự nhiên là 54.475km2 với số dân là 4.407.200 người (Niên giám Thống kê, 2002). Tây Nguyên là nơi đầu nguồn của một số sông lớn: 1) Sông Srê Pok - Sê San ở phía Tây Bắc và Bắc, diện tích lưu vực là 30.100km2, lượng dòng chảy năm là 27.000 triệu m3; 2) Sông Ba ở phía Đông, diện tích lưu vực là 11.100km2, lượng dòng chảy năm là 7.605 triệu m3; 3) Sông Đồng Nai phía Nam, diện tích lưu vực là 9.276km2, lượng dòng chảy năm là 9.360 triệu m3. Tây Nguyên cũng là thượng nguồn của một số sông: Thu Bồn, Trà Khúc chảy về phía Đông và Sê Băng Hiêng chảy về phía Tây, với diện tích lưu vực bằng 3.930km2 và lượng dòng chảy năm bằng 5.530 triệu m3. Tổng tài nguyên nước mặt toàn Tây Nguyên đạt tới 50 tỷ m3/năm, tổng lưu lượng nước hơn 1.580 m3/s. Môđun dòng chảy nội địa của Tây Nguyên là 29l/s.km2, xấp xỉ lượng dòng chảy bình quân của cả nước, song tính bình quân đầu người thì lượng dòng chảy nước mặt của Tây Nguyên lớn hơn ba lần. Trữ lượng tiềm năng nước dưới đất của Tây Nguyên vào khoảng 300 m3/s, trữ lượng có thể khai thác tới 3,5 triệu m3/ngày. Đây là vùng có tiềm năng nước dưới đất lớn trong cả nước.

Mặc dầu có nguồn nước dồi dào như vậy, nhưng trong 10 năm gần đây, Tây Nguyên liên tiếp 6 năm bị hạn 1994, 1995, 1996, 1997, 1998 và 2003. Đặc biệt năm 1998, 111.000ha cây công nghiệp và cây ăn quả bị hạn nặng, trong đó 19.300 ha bị chết. Riêng diện tích cây cà phê bị hạn là 74.400ha, bị chết 13.800ha. Hơn 770.000 dân bị thiếu nước sinh hoạt.

Nguyên nhân cơ bản gây hạn hán ở Tây Nguyên là tài nguyên nước phân bố rất không đều theo không gian và thời gian. Có những nơi lượng mưa trung bình hàng năm lớn hơn 3.000mm, như Kon Plông (Kon Tum), thượng nguồn sông Hinh (Đắk Lắk), nhưng có nơi lượng mưa này chỉ có trên dưới 1.500mm như Krông Buk, Ea Sup (Đắk Lắk). Mùa mưa lũ chỉ kéo dài 4 - 5 tháng, song chiếm tới 80 - 85% lượng mưa cả năm.

Về chất lượng, nước các sông ở Tây Nguyên nói chung còn sạch, tuy nhiên đã có các nguồn ô nhiễm sau: ô nhiễm do xả chất thải chế biến cà phê và hoa quả tươi, nước thải ra có pH thấp hơn 3,0, thiếu oxy hòa tan, BOD5 rất cao, để sử dụng lại tưới cây cà phê và lúa, màu cần phải xử lý; hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học dùng ngày một tăng.

Nước dưới đất, do giếng khoan không đúng kỹ thuật, quá độ sâu cho phép, nhiều nơi bị cạn kiệt, hoặc đã gây ô nhiễm cho các nguồn nước khác. Thực tế, tại một số nơi, mực nước ngầm đã tụt khoảng 3 - 5m so với trước đây. Cá biệt có vùng đã tụt sâu khoảng 10 - 20m, gây nhiều khó khăn về cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất.

Trong thời gian vừa qua, Tây Nguyên đã có tốc độ tăng dân số quá nhanh. Tỷ lệ tăng tự nhiên trung bình toàn Tây Nguyên hiện nay khoảng là 2,6%, dự kiến đến năm 2010 sẽ là 2,3%, dân số bản địa sẽ là 521.200 người. Ngoài ra đã có gần 1,8 triệu người di cư theo kế hoạch và hàng chục vạn dân di cư tự do. Ước đoán đến năm 2010 dân số Tây Nguyên có thể lên đến khoảng 7 triệu người. Dân số tăng sẽ kéo theo nhu cầu về các tài nguyên và phương tiện sinh sống, sản xuất, trước hết là tài nguyên nước. Nếu không có biện pháp dự phòng và khắc phục, tình trạng hạn hán nói trên sẽ thêm trầm trọng.

Làm sao để khắc phục hạn hán ở Tây Nguyên? Hạn hán có hai nguyên nhân cơ bản: thiên nhiên và con người. Trời ít mưa, không mưa kéo dài, trời nóng nhiệt độ không khí và đất tăng cao, gió nhiều, bốc hơi tăng, tổn thất về nước tăng. Người quản lý kém, dân trí chưa cao, lãng phí nước, công trình và thiết bị cũ xuống cấp, công trình và thiết bị mới chưa được xây dựng, nhu cầu về nước sẽ không được đáp ứng, thiếu nước, hạn hạn sẽ xảy ra.

Khắc phục hạn hán do thiên nhiên khó làm được, ngoại trừ làm mưa nhân tạo, tuy nhiên kỹ thuật này vẫn rất đắt và chỉ thực hiện được trong phạm vi rất nhỏ. Hạn hán do người, cụ thể là ở Tây Nguyên, thì có thể khắc phục được một phần lớn hay giảm nhẹ theo các hướng sau đây:

  • Rà soát lại các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội với khả năng đáp ứng nguồn nước theo từng giai đoạn để giảm bớt tổn thất do cung không đáp ứng cầu. Đặc biệt có thể thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi sử dụng ít nước mà vẫn có hiệu quả kinh tế cao.

  • Trong quy hoạch nguồn nước, không chỉ xét đến nhu cầu nông nghiệp mà cần xét đến cả nhu cầu của công nghiệp chế biến cà phê, cao su, hoa quả và các hoạt động dân sinh, du lịch, dịch vụ khác trong vùng.

 

Khung II.5. THIỆT HẠI DO HẠN HÁN TẠI MỘT SỐ TỈNH NHƯ KIÊN GIANG, SÓC TRĂNG, NINH THUẬN VÀ ĐỒNG THÁP

Do nắng hạn kéo dài, tỉnh Kiên Giang đã có 20.000ha cây trồng thiếu nước tưới; mặn xâm nhập từ biển Tây cũng gia tăng. Ngoài hàng loạt diện tích mía bị chết khô, 400ha hồ tiêu cũng đang thiếu nước nghiêm trọng, năng suất có thể giảm 40 - 50%. Dự báo, diện tích cây trồng chịu ảnh hưởng nắng hạn, xâm nhập mặn vẫn tăng trong những ngày tới.

Tỉnh Sóc Trăng thả nuôi hơn 35.000ha tôm sú, trong đó, khoảng 4.000ha tôm công nghiệp. Tuy nhiên, đã có hơn 4.000ha tôm nuôi quảng canh bị thiệt hại do thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài, độ mặn tăng thêm 2 - 5%o làm tôm bị sốc. Nhiều nhất là huyện Mỹ Xuyên có tới 3.200ha tôm bị chết.

Ngoài hai tỉnh trên, một số nơi khác hạn hán cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến mùa màng. Nắng hạn gay gắt làm các sông suối trên địa bàn huyện miền núi Bắc ái, Ninh Thuận khô kiệt sớm. Toàn huyện bị mất trắng 122ha lúa, ngô và rau màu; nhân dân 7/9 xã thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Tại Bắc Giang do không có mưa, gần 3.000ha lúa xuân ở chân ruộng cao hoặc cuối kênh bị khô hạn, tập trung chủ yếu ở Yên Thế 700ha và Hiệp Hòa 1.600ha. Các công ty thủy nông phối hợp chặt chẽ với ngành điện chủ động khai thác nguồn nước; đồng thời, huy động hàng trăm máy bơm nhỏ thu hút nước từ các ao hồ, sông chống hạn, bảo vệ lúa. Ngoài ra, tại tỉnh Đồng Tháp trong mùa khô này có 56 kênh tạo nguồn nước bị cạn kiệt, trong đó 14 kênh thiếu nước trầm trọng cần nạo vét ngay, tập trung ở Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông,... Tổng chiều dài các con kênh bị bồi lắng, cạn kiệt hơn 225km, khối lượng khoảng 2,7 triệu m3 đất, ước tính kinh phí 16 tỷ đồng. Hiện tỉnh đã cấp 2 tỷ đồng cho công tác chống hạn, nạo vét kênh mương.

 

Nguồn: Báo Nhân dân, ngày 22-4-2003  

  • Không nên xây dựng các hồ chứa có dung tích quá nhỏ, vì tuổi thọ kém, vừa không kinh tế. Cần tổ chức đánh giá lại các hồ chứa đã xây dựng, để nâng cấp, cho phép tồn tại hay xóa bỏ. Nhà nước đầu tư vốn để sớm xây dựng những hồ chứa đã được quy hoạch.

  • Nâng cao chất lượng quản lý công trình. Nạo vét, tu sửa, cứng hóa các tuyến kênh mương đảm bảo thông nước tới mặt ruộng, tránh nước chảy tràn lan, sử dụng các phương pháp tưới hiện đại, tiết kiệm nước.

  • Nâng cao dân trí, phát huy ý thức tiết kiệm nước, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường, các luật và văn bản dưới luật có liên quan.

  • Cần có dự báo dài hạn về hạn, về tác động của hiện tượng El Nino và La Nina trong vùng.

  • Việc di dân vào Tây Nguyên cần có tổ chức, có kế hoạch, được kiểm soát chặt chẽ, nhằm đảm bảo đời sống của người tái định cư, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống trong vùng.

Việc thực hiện được những nội dung trên sẽ từng bước giảm nhẹ hạn hán ở Tây Nguyên, ổn định đời sống của nhân dân và phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên một cách bền vững.

 

Có ngăn chặn hoang mạc hóa ở Nam Trung Bộ được không?

Ở nước ta, trong những năm gần đây, song song với lũ lụt, hạn hán, xuất hiện một tai biến thiên nhiên liên quan chặt chẽ đến tài nguyên nước là sự lan rộng quá trình hoang mạc hóa ở vùng Nam Trung Bộ, trong đó điển hình là hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.

Trong báo cáo của khóa 11 Ủy ban Khí hậu thuộc Tổ chức Khí tượng thế giới năm 1994, khái niệm về hoang mạc hóa được trình bày như sau: "Hoang mạc hóa là sự thoái hóa các hệ sinh thái và sự xuất hiện môi trường sa mạc trên các vùng khô hạn, bán khô hạn và một số vùng ẩm ướt,... Quá trình hoang mạc hóa được biểu thị bằng sự tăng cường khô hạn, sự thiếu hụt ẩm, sự tích muối trong đất, sự suy giảm độ màu mỡ của đất, sự giảm sút độ che phủ, sự thay đổi giống loài và sự bành trướng các bãi cát hoặc xâm lấn các cồn cát di động".

Theo tài liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) thì "hoang mạc hóa là quá trình tự nhiên và xã hội phá vỡ cân bằng sinh thái của đất, thảm thực vật, không khí và nước ở các vùng khô hạn, bán khô hạn và bán ẩm ướt. Quá trình này xảy ra liên tục, qua nhiều giai đoạn dẫn đến giảm sút hoặc triệt tiêu hoàn toàn khả năng dinh dưỡng của đất trồng, giảm thiểu các điều kiện sinh sống và làm tăng cảnh hoang tàn của cảnh quan". Hiện nay khoảng 30% diện tích bề mặt trái đất đã là hoang mạc hóa hoặc đang diễn ra quá trình hoang mạc hóa.

Quá trình hoang mạc hóa ở nước ta đã và đang xảy ra ở nhiều vùng trong phạm vi miền Nam Trung Bộ, trong đó điển hình nhất là hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Đây là nơi mà sự phối hợp các quá trình ngoại sinh mãnh liệt, như xói mòn, rửa trôi, lũ lụt, hạn hán, cát bay, cát nhảy, bồi lấp cửa sông, xói lở bờ biển, mặn hóa do triều lên, đã và đang làm cho hiện tượng hoang mạc thể hiện một cách hết sức khắc nghiệt.

Căn cứ vào các tiêu chí hoang mạc hóa được các tổ chức quốc tế chấp nhận, các nhà nghiên cứu ở nước ta, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khảo sát các mặt cắt và các điểm mấu chốt, cũng như phân tích cấu trúc của bản đồ cảnh quan sinh thái đã xác định các dạng hoang mạc chính ở nước ta là: 1) Hoang mạc cát (cát bay, cát chảy, cát trượt lở); 2) Hoang mạc đá (đá lộ, đá lăn, lở); 3) Hoang mạc đất cằn trơ sỏi đá, đất bạc màu thoái hóa; 4) Hoang mạc muối tàn dư xa của biển và ven biển.

Nhìn chung, hoang mạc hóa hiện tại đang xảy ra ở một số địa phương ở Nam Trung Bộ dưới dạng da báo, song đang có nguy cơ gắn kết với nhau thành khu vực lớn với tốc độ lan rộng nhanh. Diễn tiến hiện nay của hoang mạc đang theo các xu thế sau: 1) Hoang mạc xuất hiện phổ biến từ vùng cát ven biển đến vùng bán sơn địa ở chân dải Trường Sơn; 2) Mức độ hoang mạc hóa tăng dần từ Bắc vào Nam, trong đó đỉnh cao nhất là ở Ninh Thuận, sau đó giảm dần; 3) Hoang mạc cát xuất hiện ven biển, hoang mạc đất cằn phổ biến ở ven núi phía Tây, còn hoang mạc đá thường thành các dải núi đá đâm ngang ra biển.

Các nguyên nhân gây hoang mạc hóa chính ở nước ta là:

  • Cấu trúc địa hình khu vực đã tạo nên các vùng khô hạn và bán khô hạn cục bộ trên các lãnh thổ. Tính chất khô hạn trở nên gay gắt do mùa khô kéo dài tới 9 tháng trong năm, điều kiện địa hình tương phản, dốc, chia cắt mạnh dẫn đến tiềm năng xói mòn, rửa trôi lớn, làm cho đất bạc màu trơ sỏi đá.

  • Điều kiện khí hậu nắng nóng, gió mạnh và mùa khô kéo dài là tiền đề gây hoang mạc hóa. Mức độ khô hạn, khô kiệt của vùng mưa ít và rất ít như ở Ninh Thuận, Bình Thuận là rất khắc nghiệt. Theo chỉ số khô hạn, hệ số thủy nhiệt Xêlianhinốp và chỉ số lượng mưa Lăng thì các vùng mưa ít và rất ít của địa bàn nghiên cứu có khí hậu thuộc loại giữa bán sa mạc - savan và savan trảng cỏ.

  • Lượng dòng chảy ở vùng nghiên cứu thuộc loại nhỏ nhất nước ta. Ba tháng có lượng dòng chảy lớn nhất (9 - 11) chiếm tới 60 - 80% lượng dòng chảy năm. Các sông suối trong vùng đều có lưu vực nhỏ, sông ngắn, dốc, độ cắt sâu, lòng sông nông nên khả năng giữ nước kém. Tiềm năng tầng nước ngầm nông nhỏ.

  • Thành phần vật chất hình thành đất của vùng nghiên cứu đa phần là nghèo dinh dưỡng nên đã tạo ra đất có thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ ẩm kém. Đặc biệt diện tích đất cát, cồn cát khá lớn. Điều kiện nhiệt đới gió mùa với chế độ khô - ẩm theo chu kỳ đã thúc đẩy quá trình phong hóa nhanh và phát triển laterít thành tạo đá ong kết vón gây ra quá trình hoang mạc hóa trên diện rộng.

  • Đất đai trong khu vực nghiên cứu bị khai thác lâu dài với phương thức canh tác lạc hậu, đốt nương làm rẫy và chăn thả gia súc quá tải đã làm cho đất bị thoái hóa. Thoái hóa đất là quá trình đồng hành dẫn đến hoang mạc hóa và quyết định các tính chất cơ bản của hoang mạc.

Vậy làm thế nào để hạn chế sự phát triển của quá trình hoang mạc hóa ở các tỉnh miền Nam Trung Bộ? Theo chúng tôi giải quyết hạn chế hoang mạc hóa cần các giải pháp đồng bộ từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô.

Về phía Nhà nước cần: 1) Xem xét lại quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để phù hợp với điều kiện sinh thái trên quan điểm phát triển bền vững; 2) Có những quyết sách đúng đắn và hợp lý trong việc giải quyết công tác thủy lợi, nghiên cứu các phương án chuyển nước từ Tây Trường Sơn sang Đông Trường Sơn và giữ nước tại chỗ; 3) Sử dụng hợp lý tài nguyên nước, sử dụng tiết kiệm nước trên quan điểm thay đổi và lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý; 4) Nhanh chóng tiến hành phủ xanh các vùng đất trống đồi trọc; 5) Có kế hoạch hợp lý về phát triển dân số đối với vùng hoang mạc hóa.

Về phía các nhà khoa học cần: 1) Nghiên cứu đánh giá chính xác các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường để làm căn cứ cho công tác quy hoạch, sử dụng hợp lý lãnh thổ, trong đó đặc biệt lưu ý đến quy hoạch thủy lợi đi đôi với quy hoạch bố trí cây trồng vật nuôi; 2) Các ngành nông, lâm nghiệp nghiên cứu lựa chọn các cây trồng chịu hạn sử dụng ít nước, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong việc tưới tiết kiệm nước, chọn các giống gia súc có chất lượng cao phù hợp với điều kiện sinh thái của các vùng hoang mạc; 3) Nghiên cứu và đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật về sử dụng năng lượng mới để hạn chế nạn phá rừng bừa bãi.

Về phía các cộng đồng dân cư cần: 1) Nâng cao nhận thức của cộng đồng về các đặc điểm của vùng hoang mạc hóa và nâng cao các kỹ thuật chống hoang mạc hóa; 2) Nhanh chóng chuyển giao và phát triển các mô hình nông nghiệp trên đất dốc, mô hình nông - súc kết hợp, mô hình luân canh - rẫy - bãi chăn thả, mô hình nông lâm kết hợp, mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp với vườn cây ăn quả.

Với việc triển khai kịp thời, đồng bộ các giải pháp nêu trên, khả năng hạn chế được quá trình hoang mạc hóa ở các tỉnh miền Nam Trung Bộ có thể trở thành hiện thực.

 

Xâm nhập mặn ảnh hưởng như thế nào tới sản xuất và đời sống trên hai vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long?

"Lúa lấn cói,

Cói lấn tôm, cua,

Tôm, cua lấn vẹt, sậy,

Vẹt, sậy lấn cỏ ngạn,

Cỏ ngạn lấn biển cả."

Đó là quá trình cải tạo đất mặn thành đất trồng lúa sau khi quai đê lấn biển của người dân đồng bằng ven biển Bắc Bộ bằng biện pháp sinh học với 5 giai đoạn: bắt đầu bằng cỏ ngạn, thay thế cỏ ngạn bằng vẹt sậy, khai thác tôm cua, trồng cói, rồi mới đến lúa. Một chu trình từ khi đắp đê bao lấn biển đến khi trồng được lúa thường phải mất 20 năm. Sao phải làm tới cây lúa mà không dừng ở giai đoạn tôm cua? Vì vào những thời gian trước đây dân thiếu lúa gạo, bị đói. Tôm, cua rẻ như bèo. Hiện nay tình hình đổi khác, lúa gạo đã dư thừa để xuất khẩu, giá thị trường không cao, tôm cua trái lại trở thành đặc sản có giá, nuôi tôm cua mới có cơ làm giàu, trồng lúa thì chỉ đủ no là may.

Đê sông vỡ, cánh đồng lúa có thể mất trắng một vụ, nhưng mùa sau lại được gấp bội do năng suất lúa tăng vì phù sa bồi đắp. Đê biển vỡ không những mất trắng vụ trước mà còn gây hậu quả xấu cho 5, 6 mùa sau liên tiếp. Trận bão ngày 26-9-1955 đổ bộ vào Hải Phòng nước dâng tràn qua đê biển làm hơn hai vạn ha lúa vùng Kiến An bị chết do ngập mặn. Cũng trận bão đó, riêng đê huyện Yên Hưng vỡ tới 83 đoạn, làm chết hơn 200 người, hơn 1.000ha lúa, hoa màu bị phá hủy, đất trồng bị ngâm mặn sau 3 năm mới canh tác lại được. Trận bão 10-8-1958 gây ra vỡ đê Hà Nam , nước mặn tràn vào, 2 năm sau mới trồng cấy lại. Cơn bão số 5 tháng 9-1997 đổ bộ vào Cà Mau đã gây nhiễm mặn hàng chục ngàn ha, xâm nhập mặn kéo dài gây khó khăn cho canh tác nông nghiệp.

Do mặn xâm nhập vào sâu trong sông, nên ở nhiều đô thị ven sông như Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Gò Công, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên,... về mùa cạn, nước sông, kênh bị mặn, nước máy cũng bị mặn. Nước giếng khoan sâu, do sử dụng quá mức cho phép, cũng bị mặn phải bỏ.

Trước đây, vùng đồng bằng ven biển Nam Bộ, xâm nhập mặn đã làm cho sản xuất nông nghiệp không phát triển, thường chỉ có thể làm một vụ vào mùa mưa và hết sức bấp bênh. Về nước sinh hoạt, hầu như không có nguồn, trừ một vài giếng nước ngọt trên vùng giồng cát, do chưa có kỹ thuật khoan xuống tầng sâu, về mùa khô dân phải mua nước ngọt chở từ nơi khác đến, chỉ để dùng cho ăn uống.

Ở Đồng bằng sông Hồng - sông Thái Bình: Vào năm 1983 (trước khi có hồ Hòa Bình điều tiết), đường ranh giới mặn 4%o, vào sâu nhất cách các cửa sông Đáy, Ninh Cơ, Ba Lạt khoảng 20 - 25km, cách cửa sông Lạch Tray, Bạch Đằng khoảng 30km. Sau khi có hồ Hòa Bình hoạt động, ranh giới mặn 4%o vào sâu nhất lùi về phía biển khoảng 5 - 10km. Sau khi có hồ Tuyên Quang, Sơn La, Huội Quảng, Bản Chát ranh giới mặn 4%o vào sâu nhất trên các cửa sông Hồng sẽ lùi về phía biển thêm khoảng 5 - 7km, còn trên các cửa sông Thái Bình chỉ lùi được khoảng 2 - 5km, do lượng nước trong sông về mùa cạn được bổ sung nhiều, nhưng nhu cầu dùng nước cũng tăng mạnh.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long: khi chưa có các dự án ngọt hóa, mặn ảnh hưởng tới 2,50 triệu ha. Trên sông Vàm Cỏ Tây, mặn lên đến Mộc Hóa, cách biển tới 110km. Trên sông Tiền, từ Cửa Tiểu, Cửa Đại, mặn lên tới Mỹ Tho, cách biển 50 - 60km. Trên sông Hàm Luông, Cổ Chiên, sông Hậu, mặn vào sâu 45 - 50km. Tại bán đảo Cà Mau, trên 1 triệu ha bị mặn hoàn toàn về mùa khô. Phía Rạch Giá - Hà Tiên, mặn theo các kênh đào và sông Giang Thành vào sâu đến 30km. Sau khi có chương trình lớn dẫn ngọt ngăn mặn, mặn vẫn còn ảnh hưởng đến 1,78 triệu ha. Riêng năm 1998, năm có tác động mạnh của hiện tượng El Nino, diện tích bị ảnh hưởng mặn lên tới 2,43 triệu ha.

Nếu không có biện pháp thích hợp thì sự cải thiện về xâm nhập mặn sẽ không đáng kể, do nhu cầu dùng nước về mùa cạn của các nước ven sông đang không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, thực tế sẽ không đơn giản, vì việc xây dựng các hồ lớn trên dòng chính cũng như trên các phụ lưu quan trọng của sông Mê Công sẽ có những tác động vô cùng phức tạp về chế độ thủy văn, cảnh quan và đa dạng sinh học.

Ở các tỉnh ven biển miền Trung: về mùa khô ranh giới mặn thường vượt qua vùng châu thổ lên tận chân đồi núi. Trong một số năm gần đây, phong trào nuôi tôm trên vùng cát ven biển phát triển mạnh nhưng thiếu nghiên cứu và quy hoạch đầy đủ, ở một số tỉnh đã dẫn tới tình trạng cạn kiệt và mặn hóa nước ngầm đi đôi với ô nhiễm môi trường trên khu vực rộng lớn.

 

Hiện tượng lún sụt mặt đất do khai thác nước ngầm ở Hà Nội

Trên thế giới, mặt đất của nhiều thành phố như Băng Cốc (Thái Lan), Tôkyô (Nhật Bản), Mêhicô và một số nơi của Hoa Kỳ đã bị sụt lún khi khai thác nước ngầm. Nhiều nơi mặt đất bị sụt lún hàng mét. Từ đó nhiều câu hỏi đặt ra đối với chúng ta là: mặt đất Hà Nội đã sụt lún do khai thác nước ngầm chưa? Lượng nước khai thác ngày một tăng thì mặt đất Hà Nội sẽ bị sụt lún đến đâu? Có giải pháp gì để giảm sụt lún mà công suất khai thác nước ngầm vẫn được duy trì?

Hà Nội là một trong số không nhiều các thành phố được thiên nhiên ưu đãi do có nguồn tài nguyên nước nói chung, nước ngầm nói riêng, phong phú, có chất lượng thích hợp, có thể đáp ứng yêu cầu sử dụng nước cho ăn uống, sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp hiện tại và trong tương lai. Vào đầu thế kỷ trước, sau những cuộc tranh luận kéo dài và khá gay gắt về sử dụng nguồn nước nào (Hồ Tây, sông Hồng hay nước ngầm) để làm nguồn cấp nước cho ăn uống sinh hoạt của Hà Nội, cuối cùng người Pháp đã lựa chọn nước ngầm làm nguồn cấp để sản xuất nước sạch cho thành phố và Nhà máy Nước Yên Phụ đã được xây dựng với nước lấy từ các giếng khoan lên và tiến hành xử lý sắt và vi khuẩn.

Thành phố càng phát triển, lượng nước cần thiết càng nhiều và các nhà máy nước tiếp tục lần lượt được xây dựng. Các bãi giếng của các nhà máy nước ngày một nhiều và mở rộng về phía Nam và Tây Nam thành phố, ở các khu Ngô Sĩ Liên, Lương Yên, Tương Mai, Hạ Đình, Pháp Vân. Gần đây hơn, với sự mở rộng đô thị về phía Bắc và phía Tây, các nhà máy nước Mai Dịch, Gia Lâm, Cáo Đỉnh tiếp tục được xây dựng. Hiện nay đang triển khai việc xây dựng các bãi giếng Cáo Đỉnh II (Đông Ngạc) và Nam Dư.

Năm 1985, TS. Lê Huy Hoàng đã cảnh báo về khả năng sụt lún mặt đất Hà Nội do khai thác nước ngầm. Sau đó vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nhiều công trình, dự án nghiên cứu liên quan đã được triển khai. Kết quả nghiên cứu đã xác nhận rằng:

  • Đã có các biểu hiện sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm ở phần Nam bờ phải sông Hồng.

  • Sự sụt lún mặt đất xảy ra chủ yếu ở các vùng phân bố các tầng đất yếu và có liên quan đến sự giảm áp trong tầng chứa nước ngầm sâu, sắp xếp lại hạt trong các tầng trên và do sự ôxy hóa vật chất hữu cơ trong các tập bùn sét khi mực nước ngầm hạ thấp, dẫn đến giảm cường độ chịu tải của đất ở đó.

  • Sự sụt lún mặt đất không chỉ gây tổn thất cho các công trình xây dựng như: nhà cửa, đường sá, cầu cống, kênh mương, mà còn góp phần gây ô nhiễm các nguồn nước ngầm do các vết nứt tạo thành những đường lưu thông nước trên mặt và các tầng chứa nước.

Theo tính toán của Phạm Quý Nhân, khi mực nước động của tầng chứa nước ngầm tầng sâu đạt 20m và tầng trên đạt 7m, thì mặt đất ở khu vực phần Nam bờ phải sông Hồng có thể lún đến trên 1m.

Các kết quả quan trắc mực nước của tầng nước ngầm sâu trong 10 năm lại đây do Liên đoàn Địa chất thủy văn - Địa chất công trình miền Bắc thực hiện cho thấy quá trình khai thác nước ở phần bờ phải sông Hồng đã tạo ra một phễu hạ thấp mực nước trong tầng chứa nước Pleitocen (tầng nước ngầm sâu, tầng nước công nghiệp hiện đang cấp nước cho tất cả các bãi giếng của các nhà máy nước của Hà Nội) có diện tích khá lớn và đang ngày càng lan rộng và xuống sâu, đặc biệt phần phễu có trị số (-8 m) và (-14 m) liên tục tăng lên. Diện tích phễu có cốt cao (-8 m) đã tăng từ 55,17km2 năm 1992 lên 105,42km2 năm 2002 (tăng gần 2 lần); diện tích phần phễu có cốt cao (-14 m) tăng từ 4,07k m2 năm 1992 lên 33,83km2 vào năm 2002 tăng 8 lần. Trong đó, khu vực Pháp Vân, Hạ Đình là hai trung tâm có mực nước sâu nhất.

Như vậy, nếu cứ duy trì tình trạng khai thác như hiện nay, thì mặt đất Hà Nội đặc biệt ở khu vực Thanh Trì, chắc chắn sẽ sụt lún nhiều hơn, nhất là sắp tới công cuộc đô thị hóa ở khu vực này được đẩy mạnh hơn do đã được công nhận là một trong các quận nội thành.

Các kết quả nghiên cứu cũng đã khẳng định rằng, các tầng chứa nước, cả tầng nước ngầm nông và sâu, đều có quan hệ thủy lực chặt chẽ với nước sông Hồng. Lượng nước sông Hồng tham gia tới 70 - 80% vào tổng lượng nước khai thác từ các bãi giếng Yên Phụ, Lương Yên và sông Hồng chính là nguồn cấp nước ngầm cho Hà Nội. Như vậy, nếu các bãi giếng được đưa ra sát sông Hồng thì lượng nước khai thác sẽ tăng lên. Một số tác giả đã đề nghị cụ thể hơn là: ngoài các bãi giếng đã có, nên bố trí thêm các giếng khoan khai thác thành tuyến song song với sông Hồng, càng gần sông càng tốt (bố trí ngoài đê còn giúp cho bảo vệ đê tốt hơn), mỗi giếng cách nhau 150 - 250m. Như vậy dọc theo sông Hồng từ cầu Long Biên đến khu vực đền Lộ có thể bố trí khoảng 50 - 60 giếng khai thác; dọc theo sông từ cầu Thăng Long lên thượng lưu có thể bố trí 15 - 20 giếng; công suất mỗi giếng có thể khai thác 5.000 - 8.000 m3 mỗi ngày. Tổng công suất của tuyến giếng này có thể đạt 400.000 - 500.000 m3/ngày. Đồng thời có thể bố trí một vài bãi giếng ở khu vực Tứ Liên (2 bãi), khu Phúc Xá (1 bãi) và xây dựng các hành lang thu nước ở các bãi giữa sẽ có thể khai thác khoảng 100.000 m3 nước mỗi ngày cho mỗi cụm công trình này. Đối với các bãi giếng cũ thì các bãi giếng Pháp Vân, Tương Mai và Hạ Đình sẽ giảm công suất xuống chỉ còn 20 - 30% hoặc ngừng khai thác hoàn toàn, các bãi giếng khác duy trì khai thác bình thường; xóa bỏ toàn bộ các lỗ khoan đường kính nhỏ và thay vào đó cấp nước theo đường ống. Như vậy, riêng phần phía phải sông Hồng chúng ta có thể khai thác được từ 1.200.000 - 1.400.000 m3 mỗi ngày mà mực nước không những không tăng so với các công trình bố trí sát biên cấp mà còn có thể phục hồi mực nước lên do ngừng khai thác ở các trung tâm hạ thấp (Pháp Vân, Hạ Đình, Tương Mai). Thêm vào đó có khả năng giảm nồng độ của một số thành phần như sắt, amôn.

Theo ý kiến nêu trên có thể khắc phục tình trạng sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm ở Hà Nội mà vẫn có thể đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước của thành phố, nếu chúng ta mạnh dạn đầu tư và quy hoạch lại hệ thống các bãi giếng khai thác, và áp dụng các công nghệ khai thác bằng các hành lang thu nước bố trí ở bãi cát giữa sông Hồng.

 

Việc sử dụng tài nguyên nước ở nước ta đã được quy hoạch hợp lý chưa?

Tiền thân của quy hoạch tài nguyên nước ở Việt Nam là các báo cáo "Nhiệm vụ thiết kế công trình thủy lợi - thủy điện" làm trong thời gian 1955 - 1960; "Quy hoạch hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải" cũng vào thời gian nói trên và "Quy hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng" làm năm 1961.

Ngay trong những năm tháng chống Mỹ, cứu nước nhiệm vụ quy hoạch được mở rộng ra hầu hết các sông lớn ở phía Bắc: hệ thống sông Nậm Rốm, Kỳ Cùng - Bắc Giang, các sông Quảng Ninh, sông Mã, sông Cả, sông Nghèn, sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Bến Hải. Sau năm 1975, công tác quy hoạch được triển khai cấp tốc với 4 vùng: Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Sau hơn 50 năm, công tác quy hoạch thủy lợi, thủy điện đã đặt cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng 75 hệ thống thủy nông lớn, 760 hồ đập lớn và vừa, 1.000 cống tưới tiêu lớn ngăn mặn, 2.000 trạm bơm điện lớn và vừa, hàng vạn km kênh mương, 7.000km đê sông, đê biển, hàng vạn công trình nhỏ và trạm bơm. Về cơ bản, công tác quy hoạch đã đáp ứng kịp thời những yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp phát triển tài nguyên nước. Hầu hết các quy hoạch là đúng đắn và hợp lý.

Tuy nhiên đến nay ở nước ta chưa có văn bản quy hoạch của một dòng sông nào được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Điều này đã tạo sơ hở về pháp lý khiến cho việc xem xét một dự án lớn trên một con sông thường phải kéo dài mất thời gian, gây lãng phí không đáng có. Điều đó cũng hạn chế một phần sự hoạt động của Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước, cũng như các ban quản lý quy hoạch lưu vực sông. Trong các quy hoạch đã có, thì chỉ có quy hoạch cấp nước, mà thiếu quy hoạch tiêu. Nhiều hệ thống thủy lợi ở Trung Bộ và Tây Nguyên chủ yếu là để tưới và không có hệ thống tiêu. Đối với các sông xuyên biên giới cũng chưa có quy hoạch chính thức nên bị động trong nhiều giải pháp cụ thể. Trong các quy hoạch đã có, chưa xét đến yêu cầu về lưu lượng nước sinh thái. Quy hoạch thường chỉ xét nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực sông, mà không tính đến quy hoạch cấp nước cho bản thân con sông đó. Có một số công trình quy hoạch chưa được hợp lý. Ví dụ như thủy điện Thác Bà làm ngập 235km2 chủ yếu là đất màu mỡ của vùng có dân cư đông đúc thuộc hai huyện Lục Yên và Yên Bình của tỉnh Yên Bái. Tính cụ thể để có 1MW điện, đã làm ngập 2,18km2 (gấp 20 lần so với hồ Hòa Bình), số dân phải di chuyển 178 người; hiệu quả cắt lũ của hồ cho Đồng bằng sông Hồng - sông Thái Bình không lớn. Rõ ràng nếu tính chi phí - lợi ích như hiện nay, Dự án hồ Thác Bà khó có thể xem là hợp lý. Đương nhiên, nếu nhận xét một cách toàn diện, nhất là khi chú ý tới bối cảnh lịch sử của nước ta tại thời điểm đó, thì kết luận chung sẽ có thể khác. Quy hoạch cấp nước sạch cho các vùng sâu, vùng xa đặc biệt là vùng ven biên giới, ven biển và hải đảo tiến hành chậm và chưa có chiến lược rõ ràng. Thiếu sự tham gia đóng góp của cộng đồng trong nội dung quy hoạch và giám sát quy hoạch nên một số quy hoạch chỉ tồn tại trên giấy. Thậm chí có quy hoạch khi thực hiện lại mâu thuẫn với ý đồ sản xuất của người nông dân, đặc biệt là ở những vùng nhạy cảm giữa trồng lúa và nuôi trồng thủy sản.

Để có cơ sở pháp lý cho quy hoạch thì các văn bản quy hoạch cần được tổ chức thẩm định và được cấp có thẩm quyền phê duyệt chính thức, đặc biệt cần sớm có một quy hoạch chiến lược khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn nước trên toàn lãnh thổ. Cần sớm đẩy mạnh hoạt động có hiệu quả của Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước và các ban quản lý quy hoạch lưu vực sông.

 

*

*     *

 

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Việt Nam đã khẳng định quan điểm "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững".