Sách » Việt Nam » Việt Nam môi trường và cuộc sống

Làng nghề trước những thách thức về môi trường sống

Làng nghề ở nước ta thường là làng làm nghề thủ công đã có từ lâu. Làng nghề thường có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề sản xuất và dịch vụ phi nông nghiệp hoặc một vài dòng họ chuyên làm một nghề, kiểu cha truyền con nối.

Chính sách đổi mới kinh tế đã đem lại luồng sinh khí mới cho các ngành nghề thủ công truyền thống Việt Nam. Sau thời gian ngừng trệ, ì ạch, bế tắc, trong vòng 10 năm trở lại đây, từ các nguồn ngân sách hỗ trợ của Nhà nước, kết hợp với cơ chế thoáng mở cửa của nền kinh tế thị trường và sự năng động cũng như tâm huyết với nghề của những người dân, các làng nghề thủ công không ngừng thay da đổi thịt và đã tạo nên một diện mạo mới cho nông thôn Việt Nam. Theo số liệu gần đây nhất, hiện cả nước có 1450 làng nghề phân bố ở 58 tỉnh và thành phố trong cả nước, riêng địa bàn Đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng. Các tỉnh có số lượng làng nghề đông bao gồm: Hà Tây có 280 làng, Thái Bình có 187 làng, Bắc Ninh có 59 làng, Hải Dương có 65 làng, Nam Định có 90 làng, Thanh Hoá có 127 làng. Theo ước tính, trong vòng 10 năm qua, làng nghề nông thôn Việt nam đã có tốc độ tăng trưởng nhanh, trung bình khoảng 8%/năm, tính theo giá trị đầu ra. Các ngành nghề chủ yếu được phát triển ở làng nghề như sau:  

 

Bảng VI.4. Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam


 
Nguồn: Đề tài KC 08-09

 

Làng nghề là giải pháp phát triển kinh tế nông thôn rất có hiệu quả. Lao động nghề tại các làng đã giải quyết được vấn đề lao động dư thừa và lao động trong thời gian nông nhàn. Có 27% số hộ nông dân sản xuất nông nghiệp kiêm các ngành nghề và 13% số hộ chuyên về ngành nghề. Theo thống kê, lao động làng nghề đã thu hút tới 10 triệu lao động thường xuyên. Bên cạnh đó, thu nhập từ hoạt động nghề là nguồn thu nhập đáng kể với các hộ nông dân, ở nhiều làng nghề, hoạt động nghề không còn là nghề phụ, mà đã trở thành nghề chính với cả gia đình hay một số lao động chính trong gia đình. Các làng nghề tái chế ở miền Bắc đã phát triển thành các cụm công nghiệp ở nông thôn. Tại đây hoạt động nông nghiệp chỉ đóng vai trò rất nhỏ trong thu nhập của người dân trong làng. Một số lớn các làng nghề khác có hoạt động nghề là nghề phụ và chỉ có sự tham gia của một số thành viên trong làng. Làng nghề đúc đồng Phước Kiều (Quảng Nam) là một ví dụ. Đây là một làng nghề kết hợp cả hoạt động nông nghiệp và hoạt động nghề. Có 40 trong tổng số 80 hộ dân của làng làm nghề đúc đồng. Trong mỗi hộ dân, thường có 1-2 thợ chính làm nghề. Các lò đúc của làng thường nổi lửa từ sáng sớm, phụ nữ và thiếu niên trong nhà chính là các thợ phụ giúp các phần việc xung quanh lò đúc. Tới 7 - 8 giờ sáng, các "thợ phụ" tiếp tục công việc chính của mình như làm đồng hay tới trường học, trong khi "thợ chính" bắt đầu công việc tinh xảo từ những sản phẩm đúc thô. Các "thợ phụ", sau khi tạm ngơi công việc đồng áng, lại tiếp tục công việc, chọn lọc nguyên liệu, lựa xỉ phế liệu để giã nhỏ và nấu lại. Do sản xuất ở quy mô gia đình nên hoạt động thường khá năng động trong việc thay đổi mặt hàng cho phù hợp với thị trường.

 

Khung VI.15. VÂN CHÀNG - MẶT TRÁI CỦA MỘT LÀNG NGHỀ TRÙ PHÚ

Tồn tại đã hơn 600 năm, làng nghề Vân Chàng (xã Nam Giang, huyện Nam Trực, Nam Định) được nhiều người biết đến với nghề rèn truyền thống. Vân Chàng hiện có 675 hộ dân với 3.075 nhân khẩu, trong đó có hơn 90% làm nghề rèn truyền thống. Hàng năm số hộ sản xuất đều tăng do lợi nhuận cao. Từ 10 năm trở lại đây, từ sản xuất theo phương pháp thủ công, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư máy móc thiết bị nước ngoài, công nghệ hiện đại hơn để sản xuất. Sản phẩm làng nghề Vân Chàng được tiêu thụ tại hầu hết các tỉnh phía Bắc, xuất khẩu ra nước ngoài như Lào, Campuchia,... Trong làng thường xuyên có 600 - 700 lao động với mức lương từ 600.000 - 700.000 đồng/tháng. Tình trạng thất nghiệp, nghiện hút gần như không có. Thống kê của Uỷ ban nhân dân xã Nam Giang, thu nhập bình quân làng nghề 550USD/người/năm. Vân Chàng là điển hình cho một làng nghề truyền thống duy trì và phát triển được nghề trong quá trình chuyển đổi kinh tế.

Ai đã một lần đến Vân Chàng thì không thể quên được ấn tượng về môi trường nơi đây. Ngay từ đầu làng những tiếng động ầm ầm đập vào tai, mùi nồng nồng, khó thở bao phủ không khí trong làng. Sông Vân Chàng, nơi đón nhận tất cả nguồn nước thải của "nền công nghiệp làng" có màu đen kịt, mùi hôi rất khó chịu và độ lưu thông của dòng nước rất thấp. Rãnh nước dẫn nước thải từ các hộ dân làm nghề nhôm, rèn sắt đặc sệt màu vàng sánh. Một hộ làm nghề cô nhôm tại đây cho biết "Bụi bám thành lớp dày trên mái nhà, khi trời mưa sẽ hoà tan lượng hoá chất độc hại bám trên mái, nếu xối vào chân tay sẽ bị phồng rộp rất rát". Nước thải tự do ra hồ, ao ngấm vào lòng đất, cả không khí, đất, nước đều bị ô nhiễm nặng nề. Cả 14 bể mạ làng Vân Chàng hàng ngày thải ra sông 40-50m3 nước thải chưa được xử lý có chứa nhiều loại axít mạnh và đặc biệt có hàm lượng chất độc xianua vượt 65-117 lần so với tiêu chuẩn cho phép. Nhiều bệnh nguy hiểm được phát hiện tại Vân Chàng, hơn 90% dân số mắc các bệnh ngoài da, viêm ngứa, đau mắt hột, nhiều người chết vì bệnh ung thư. Rất nhiều chị em phụ nữ đẻ non hoặc con chết yểu, đặc biệt là các ca đẻ quái thai có chiều hướng tăng lên trong các năm gần đây. Tuổi thọ trung bình của người dân Vân Chàng là 55, thấp hơn nhiều so với tuổi thọ trung bình cả nước.

Hiện tại hàng ngày, hàng giờ người dân Vân Chàng vẫn phải bám lấy "nghề" mà sống. Nguy hiểm là vậy, nhưng nếu bỏ nghề họ sẽ sống ra sao? Các biện pháp giải quyết vẫn còn đang được bàn định và biết đến bao giờ, người dân Vân Chàng mới thoát khỏi ô nhiễm do chính họ gây ra?

 

Nguồn: Thế giới thương mại, số 77, ngày 28-6-2003  

 

Bên cạnh những dấu hiệu đáng mừng trong phát triển nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam, một nỗi lo lắng và day dứt không kém là nguy cơ ô nhiễm môi trường từ các làng nghề. Nguy cơ này phát sinh chính từ đặc thù của hoạt động làng nghề, như quy mô nhỏ, manh mún, công nghệ thủ công, lạc hậu không đồng bộ, phát triển tự phát chủ yếu chịu chi phối của thị trường và một thực tế nữa là do sự thiếu hiểu biết của những người dân về tác hại của hoạt động sản xuất đến sức khoẻ của chính bản thân mình và những người xung quanh.

 

Điều kiện môi trường lao động của nguời dân làng nghề: đất chật hẹp, sống và sản xuất cùng một địa điểm, điều kiện lao động rất hạn chế

Các làng nghề thường có mật độ dân cư đông đúc, vì vậy thiếu mặt bằng sản xuất, các xưởng sản xuất thường xen kẽ với khu dân cư. Theo lẽ thường, các làng nghề càng phát triển mạnh thì càng thu hút nhiều lao động. Trước hết là lao động tại chỗ, con em các gia đình không phải ly hương tìm đường kiếm sống, thứ đến là làng nghề phát triển mạnh sẽ thu hút thêm lao động ở các vùng lân cận, làm cho mật độ dân cư của làng nghề đã lớn lại càng lớn hơn. Tình trạng phổ biến của các hộ, cơ sở sản xuất nghề ở nông thôn là sử dụng ngay diện tích ở làm nơi sản xuất. Khi quy mô sản xuất tăng lên hoặc sử dụng thiết bị, hoá chất đã làm cho môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, nhất là ở các làng nghề tái chế phế liệu và chế biến thực phẩm.

Điều kiện công nghệ, kỹ thuật ở làng nghề: thủ công, lạc hậu,...

Bên cạnh một số ít nghệ nhân và những tay thợ có tay nghề cao, thì có đến 55% lao động tại các làng nghề chưa qua đào tạo, khoảng 36% không có chuyên môn kỹ thuật. Đối với các hộ kiêm (vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề), có tới 79% lao động không có chuyên môn kỹ thuật.

Hạ tầng kỹ thuật của làng nghề ở nông thôn rất thấp, chỉ khoảng 20% các cơ sở có nhà xưởng kiên cố, 86% có sử dụng điện, 37% công việc được cơ khí hoá còn lại tới trên 60% làm bằng tay. Hầu hết các hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc có cải tiến một phần. Trừ một số cơ sở mới xây dựng có công nghệ tiên tiến, đa số còn lại nhất là ở khu vực hộ gia đình, trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ cơ khí còn rất thấp, thiết bị phần lớn là đơn giản không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường.

 

 

 

Tác động môi trường do hoạt động sản xuất nghề của các loại hình sản xuất

Làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm:

Các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là một trong những loại hình làng nghề cổ xưa nhất, các làng nghề truyền thống này thường sản xuất theo quy mô hộ gia đình, phân tán và sản xuất nhiều loại hình sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của dân cư trong vùng. Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có 197 làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, chiếm 13,58% trong tổng số 1.450 làng nghề trong cả nước. Các làng nghề này chủ yếu tập trung ở miền Bắc (134 làng), 42 làng ở miền Trung và miền Nam có 21 làng.

Sự phát triển ở các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm diễn ra một cách tự phát, sản xuất mở rộng tuỳ tiện, không có quy hoạch, trình độ công nghệ còn thấp. Thêm vào đó là tâm lý và thói quen sản xuất trên quy mô nhỏ, khép kín, nên đã hạn chế trong đầu tư trang thiết bị và đổi mới công nghệ, dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao, tiêu tốn nhiều nguyên nhiên liệu, đồng thời thải ra môi trường một lượng lớn chất thải, đặc biệt là nước thải giàu chất hữu cơ.

Đối với môi trường không khí, nguồn gây ô nhiễm đặc trưng nhất của làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là mùi hôi thối của nguyên vật liệu tồn đọng lâu ngày và do sự phân huỷ của các hợp chất hữu cơ có trong chất thải rắn và nước thải từ các cống rãnh, kênh mương. Quá trình phân giải yếm khí các chất hữu cơ sinh ra các khí độc rất ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân làng nghề. Đặc biệt phải kể đến các làng nghề sản xuất nước mắm, do phơi chượp ngoài trời nên mùi hôi, tanh khắp cả làng rất khó chịu. Một nguồn gây ô nhiễm không khí nữa ở làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là bụi nguyên liệu phát tán trong không khí. Ví dụ như bụi trà tại các làng nghề chế biến trà hương rất mịn và rất dễ xâm nhập vào cơ thể người gây ảnh hưởng đến đường hô hấp. Ngoài ra, cũng như phần lớn các làng nghề, nhiên liệu chủ yếu phục vụ sản xuất là than, củi. Với nhu cầu nhiên liệu rất lớn, bụi, khí thải sinh ra do đốt nhiên liệu than củi là nguồn gây ô nhiễm chính tới môi trường không khí.

Chế biến nông sản thực phẩm là loại hình sản xuất có nhu cầu lớn về sử dụng nước và đồng thời cũng thải ra một lượng nước không nhỏ. Nước thải của các làng nghề này có đặc tính chung là rất giàu chất hữu cơ, dễ phân huỷ sinh học. Ví dụ như nước thải của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn có hàm lượng ô nhiễm rất cao (COD = 13.300 - 20.000mg/l; BOD5 = 5.500 - 125.000 mg/l). Đặc trưng nước thải của một số làng nghề chế biến nông sản thực phẩm cho thấy chất lượng môi trường nước tại các làng nghề là rất đáng lo ngại (Bảng VI.5). Cho đến nay, phần lớn nước thải tại các làng nghề đều thải thẳng ra ngoài không qua bất kỳ khâu xử lý nào. Nước thải này tồn đọng ở cống rãnh thường bị phân huỷ yếm khí gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm môi trường đất và suy giảm chất lượng nước ngầm. Chất lượng nước ngầm tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm phần lớn đều có dấu hiệu bị ô nhiễm với hàm lượng COD, TS, NH4+ trong nước giếng cao. Nước giếng của làng Tân Độ và Ninh Vân còn nhiễm vi khuẩn coliform, đặc biệt nước giếng của làng nghề sản xuất nước mắm Hải Thanh (Thanh Hoá) đã bị ô nhiễm nghiêm trọng (COD = 186 mg/l). Không chỉ ở Hải Thanh, mà tại tất cả các làng nghề sản xuất nước mắm được khảo sát trong khuôn khổ Đề tài KC08-09 đều có tình trạng tương tự, dân làng ở những nơi này phải mua nước ngọt từ nơi khác để sử dụng.

Mặt khác, phần lớn các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm đều tận thu phế liệu để chăn nuôi. Nước thải từ nguồn này cũng gây ô nhiễm môi trường không khí và nước đáng kể.

 

Bảng VI.5. Đặc trưng nước thải một số làng ngh chế biến nông sản thực phẩm đặc trưng  


Nguồn: Báo cáo của Đề tài KC 08-09

* Kết quả khảo sát thực hiện trong thời gian từ ngày 8-12-2002. Mẫu nước thải lấy tại cống chung của làng hay ao làng để đánh giá chất lượng môi trường nước của làng.

 

Kết quả điều tra y tế tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm cho thấy rõ những ảnh hưởng từ sản xuất nghề tới sức khoẻ người dân. Các bệnh phổ biến mà người dân làng nghề mắc phải là bệnh phụ khoa ở phụ nữ (13 - 38%), bệnh về đường tiêu hoá (8 - 30%), bệnh viêm da (4,5 - 23%), bệnh đường hô hấp (6 - 18%), đau mắt (9 - 15%). Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do môi trường sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh, nguồn nước sạch khan hiếm. Tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở làng nghề Dương Liễu - Hà Tây, làng bún bánh Vũ Hội - Thái Bình là 70%, làng bún Phú Đô, làng rượu Tân Độ là 50%, làng bún bánh Yên Ninh, nước mắm Hải Thanh là 10%.

Làng nghề vật liệu xây dựng và gốm sứ:

Ngành sản xuất vật liệu xây dựng và gốm sứ đã tồn tại từ hàng trăm năm nay, tập trung ở những vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất. Mặc dù số làng nghề không nhiều nhưng sản phẩm của các làng nghề này đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng ngày càng tăng ở nước ta, đặc biệt là ở vùng nông thôn.

Theo thống kê, tổng số làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng là 31 làng, phân bố tương đối đều trên cả nước. Số lượng làng nghề tăng giảm phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của thị trường. Hoạt động của các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng đã thu hút số lượng lớn người lao động tham gia và giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm lao động tại mỗi làng. Các loại hình sản xuất chủ yếu bao gồm khai thác đá, nung vôi, đóng gạch ngói và sản xuất gốm sứ. Quy mô và loại hình sản xuất rất tuỳ thuộc vào nhu cầu thị trường tại địa phương và các vùng lân cận xung quanh làng nghề.

Các tác động chủ yếu đến môi trường từ hoạt động của các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng là ô nhiễm không khí do bụi và khói lò nung. Quy trình nung vôi, gạch ở các làng nghề chủ yếu theo phương pháp thủ công sử dụng nhiên liệu là than. Khí thải từ các lò nung đốt than chứa bụi, các khí ô nhiễm. Đặc biệt các lò nung thường không được thiết kế đúng quy cách, nên quá trình cháy không hết, tạo ra các sản phẩm cháy nhiên liệu thiếu ôxy như CO, SO2,... Bụi phát sinh từ khâu khai thác, gia công đất nguyên liệu, vận chuyển vào lò, ra lò và bốc dỡ sản phẩm. Đề tài KC 08-09 đã tiến hành khảo sát tại một số làng nghề điển hình và đã cho thấy hàng năm các làng nghề thải ra môi trường một số lượng lớn các chất gây ô nhiễm không khí (Bảng VI.6).

 

Bảng VI.6. Ước tính tải lượng ô nhiễm của một số làng nghề sản xuất gạch và nung vôi

Nguồn: Đề tài KC 08-09 về môi trường - làng nghề

 

Đối với các làng nghề khai thác đá, ô nhiễm chủ yếu là bụi từ khu vực khai thác và tiếng ồn do nổ mìn và hoạt động của các máy khoan, đục, máy nghiền, xay đá,... Việc khai thác 1m3 đá nguyên khai qua chế biến sẽ sinh ra 0,1 - 0,5kg bụi giàu silíc. Các kết quả khảo sát cho thấy, nồng độ bụi ở các khu vực khai thác, chế biến đá thường xuyên vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 5 lần (Tràng Thạch, Đà Nẵng) và tiếng ồn thường xuyên ở mức cao từ 80 - 95dBA.

Lượng khí thải độc hại từ các lò gạch thủ công còn làm ảnh hưởng đến mùa màng và hoa màu của nông dân tại làng nghề và cả các vùng lân cận. Ngoài ra việc khai thác đất bừa bãi không theo quy hoạch gây thoái hoá đất, phá huỷ thảm thực vật, tăng nguy cơ xói mòn và giảm độ phì của đất, hậu quả là cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng mùa màng.

Người dân làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng trực tiếp sống trong môi trường có nồng độ bụi, khí độc cao, công việc nặng nhọc nên tỷ lệ mắc các bệnh đường hô hấp, da, bệnh về mắt và các rối loạn thần kinh rất cao. Làng nghề Đồng Tân, Thanh Hoá và làng nghề Kiện Khê, Hà Nam có tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp do sản xuất nghề lên đến 50%. Ngoài ra, các vấn đề về an toàn lao động cũng chưa được quan tâm thoả đáng ở các làng nghề này, dẫn tới nhiều tai nạn lao động như bỏng hơi, bỏng nhiệt, bị mảnh vỡ đá, đất văng gây thương vong,...

Làng nghề tái chế chất thải: giấy, nhựa, kim loại,...

Đây là nhóm làng nghề tận dụng phế liệu làm nguyên liệu cho sản xuất, nhờ đó giảm chi phí đầu tư và giảm lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường. Mặt khác, trong khi chưa có các cơ sở lớn tái chế chất thải, thì các làng nghề tái chế chất thải phát triển đã tạo ra một mạng lưới thu gom nguyên liệu, phế liệu và chất thải. Do đó, loại hình làng nghề này rất được khuyến khích phát triển. Các làng nghề tái chế được chia thành 3 loại cơ bản: tái chế giấy, tái chế kim loại và tái chế nhựa (Bảng VI.7), tập trung chủ yếu ở miền Bắc với số lượng vượt trội của các làng nghề tái chế kim loại.

 

Bảng VI.7. Phân bố các làng nghề tái chế trong cả nước

Nguồn: Đề tài KC 08-09 về môi trường - làng nghề

 

Số lượng làng nghề tái chế không lớn, nhưng tỷ lệ cơ giới hoá cao hơn các nghề khác rất nhiều, chiếm từ 50 - 70%. Một số tổ hợp ở các làng nghề có quy mô sản xuất lớn và thu hút lực lượng lao động lớn ở địa phương như làng nghề tái chế nhựa Minh Khai, Hưng Yên thu hút hơn 4.000 lao động, làng nghề tái chế giấy Dương Ổ, Bắc Ninh sản xuất hàng năm 12.000 tấn giấy, thu hút 5.000 lao động, hay làng tái chế sắt, nhôm Vân Chàng, Nam Định thu hút 3.000 lao động với sức sản xuất khoảng 90 tấn phế liệu/ngày. Sản phẩm của làng nghề tái chế rất đa dạng và phong phú. Do đặc thù là các làng nghề mới và sản xuất theo quy mô hộ gia đình nên tính năng động và sáng tạo trong việc nắm bắt thị trường và đa dạng hoá thị trường và sản phẩm rất rõ nét ở các làng nghề này. Thu nhập và đời sống của dân làng nghề khá cao.

Tuy nhiên, các làng nghề trù phú này đang đứng trước một thực trạng rất đáng lo ngại về môi trường. Do sản xuất với tư tưởng tư hữu, chạy theo lợi nhuận đơn thuần, bỏ qua các tác động xấu đến môi trường, nên người dân các làng nghề tái chế phế liệu đều đang phải sống trong môi trường hết sức ô nhiễm.

Đối với các làng nghề tái chế giấy, ô nhiễm chủ yếu từ nước thải ở các công đoạn ngâm tẩm, nấu và nghiền nguyên liệu cũng như công đoạn xeo giấy. Tuy mức độ ô nhiễm không bằng nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nguyên liệu thô, nhưng do việc thải nước bừa bãi và không qua khâu xử lý mà thải thẳng vào nguồn nước mặt. Lượng nước thải này còn chứa hoá chất dư, bột giấy và có hàm lượng chất hữu cơ cao, nên hàm lượng ôxy hoà tan tại các nguồn tiếp nhận rất thấp, gần như bằng 0. Bột giấy, xơ sợi còn sót trong nước thải gây bồi đắp lòng mương, ao hồ. Tính riêng hai làng nghề Dương Ổ và làng Phúc Lâm mỗi ngày thải vào nguồn nước mặt khoảng 1.450 - 3000kg COD và hơn 3.000kg bột giấy. Đối với môi trường không khí, ô nhiễm chủ yếu ở các làng nghề tái chế giấy là bụi, hơi kiềm, Cl2 do dùng nước Javen để tẩy trắng và hơi H2S. Tại một số vị trí sản xuất, hàm lượng Cl2 vượt tiêu chuẩn cho phép tới 3 lần, hơi H2S tại các bãi rác, cống rãnh vượt tiêu chuẩn cho phép 1 - 3 lần.

Đối với các làng nghề tái chế nhựa, do đặc thù nguyên liệu thu gom từ nhiều nguồn và đều là nhựa phế thải có dính nhiều tạp chất, nên trong quá trình công nghệ sử dụng rất nhiều nước để rửa phế liệu. Lượng nước này ước tính khoảng 20 - 25m3/tấn nhựa phế liệu. Tính riêng làng nghề tái chế giấy Minh Khai hàng năm thải ra khoảng 455.000m3 nước thải. Thành phần của nước thải này rất phức tạp, vì chứa nhiều loại hợp chất vô cơ, hữu cơ bám dính trên nhựa trong quá trình sử dụng, trong đó có cả các chất độc hại (từ bình chứa thuốc trừ sâu, hoá chất,...), vi sinh vật gây bệnh. Trong công nghệ tái chế nhựa, khí ô nhiễm phát sinh từ công đoạn gia nhiệt trong quá trình tạo hạt, đùn túi làm nhựa cháy sinh khí độc như HCl, HCN, CO, HC,... Ngoài ra, quá trình phân huỷ các tạp chất dính trên nhựa trong khâu thu gom cũng phát sinh khí ô nhiễm. Bụi cũng là chất ô nhiễm đáng quan tâm, phát sinh từ khâu xay nghiền, phơi, thu gom, phân loại và từ các cơ sở dùng than để gia nhiệt trong quá trình sản xuất.

Tại các làng nghề tái chế kim loại, lượng nước sử dụng không nhiều, chỉ dùng cho nước làm mát, vệ sinh thiết bị, nhà xưởng và nước thải từ quá trình tẩy rửa và mạ kim loại nên có hàm lượng các chất độc hại khá cao, đặc biệt là các kim loại nặng (Bảng VI.8).  

 

Bảng VI.8. Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải làng nghề tái chế kim loại (mg/l)  

 

 

 

 

 

 

Nguồn: Đề tài KC 08-09 về môi trường - làng nghề

 

Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí tại các làng nghề tái chế kim loại cũng là vấn đề rất nghiêm trọng. Bụi trong không khí phát sinh từ khâu phân loại, gia công sơ bộ, tẩy gỉ, nấu, cán, kéo, đúc, đặc biệt là khu vực bên cạnh các lò đúc thép, hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép tới 10-15 lần. Tại các làng nghề này, bụi thường có chứa kim loại mà chủ yếu là ôxít sắt nồng độ lên tới 0,5mg/m3 làm cho không khí có mùi tanh. Trong không khí tại các làng nghề này luôn phát hiện được hơi hoá chất như Cl, HCN, HCl, H2SO4, SO2, CO, NO tuy hàm lượng nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép, nhưng có mặt thường xuyên trong không khí gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khoẻ cộng đồng.

Ô nhiễm từ các làng nghề tái chế thuộc mức độ ô nhiễm nặng. Do việc thu gom và thải bỏ bừa bãi, nên ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và sức khoẻ người dân rất nghiêm trọng. Hầu hết các ao hồ trong các làng nghề không thể nuôi được cá, do đã tiếp nhận một lượng nước thải khá lớn từ hoạt động sản xuất với nồng độ ô nhiễm cao, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường và do rác thải bừa bãi gây bồi lắng và cản trở dòng chảy của nước sông hồ. Đã có đoàn khảo sát nước ngoài thuê trẻ em trong làng Vân Chàng bắt các thuỷ động vật trên cả đoạn sông một km chảy qua làng mà không bắt được một sinh vật sống nào.

 

Khung VI.16. XÁM XỊT "LÀNG CHÌ"

"Không đi làm thì ai cho 3 - 4 trăm nghìn một tháng. Hại thì ai mà chả biết nhưng không có ăn thì vài ngày là chết chứ nhiễm chì thì nào có chết ngay" (dân làng tái chế chì Đông Mai, Văn Lâm, Hưng Yên).

Làng nghề tái chế chì Đông Mai có 200 hộ tham gia sản xuất, 25 lò nấu chì, tiêu thụ 16 - 18 tấn ắcquy hỏng/ngày, thu 8 - 10 tấn chì, thải 500kg bụi chì và từ 7 - 8 tấn vỏ bình ắcquy và axít H2SO4. Thu nhập bình quân đầu người 3 triệu đồng/năm.

Ô nhiễm môi trường khí: Tầm nhìn hạn chế 3 - 4km, hơi axít và khói chì bao phủ, lúa chết vì khói chì, bụi chì bám vào cây.

Ô nhiễm môi trường nước: Ao và nước giếng có hàm lượng chì trung bình 0,77mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép 15 lần, đặc biệt ao đãi chì và đổ xỉ hàm lượng 3,278mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép 65 lần. Trong bèo chứa 430,3mg chì/kg, rau muống 168,15mg chì/kg tại ao chứa nước thải pha ắcquy.

Ô nhiễm môi trường đất: Đường trong xóm lát bằng vỏ ắcquy hỏng, đất khô cằn, năng suất cây trồng giảm mạnh

Sức khoẻ: 100% người lao động nhiễm bụi chì, hàm lượng chì trong nước tiểu là 0,25 - 0,56mg/l (với người bình thường khoảng 0.06mg/l), hàm lượng chì trong máu người lao động là 135mg/l, 48 trẻ em bị dị tật, 97 trẻ em bị viêm phổi, thiếu máu, xanh xao, tỷ lệ người mắc bệnh thần kinh, bại liệt, não, lao phổi cao hơn các nơi khác từ 2 - 3 lần.

Nguồn: Báo Thương mại "Xám xịt làng chì", số 35, 2003

 

Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở các làng nghề tái chế cao hơn các làng không sản xuất từ 15 - 25%, tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em và phụ nữ từ 30 - 45%. Trẻ em, phụ nữ trong làng, chủ yếu bị các bệnh về đường hô hấp, viêm phế quản, viêm phổi (ở trẻ em), viêm phụ khoa (ở phụ nữ). Tuổi thọ trung bình ở các làng nghề này thấp, chỉ đạt 55 - 65 tuổi, các bệnh dịch như tiêu chảy, đau mắt đỏ, ngộ độc ngày một tăng, đặc biệt tại các làng nghề tái chế kim loại.

Làng nghề dệt nhuộm:

Xuất phát từ nhu cầu may mặc cơ bản, ban đầu chỉ là sản xuất để tự phục vụ, các làng nghề dệt nhuộm dần dần hình thành theo thời gian và với truyền thống cha truyền con nối, đã tồn tại và phát triển cho tới ngày nay. Các làng nghề truyền thống, trong đó có nghề dệt nhuộm, đã đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nghề và làng nghề. Cả nước hiện có 173 làng nghề dệt nhuộm, chiếm 10% tổng số làng nghề. Các làng nghề dệt nhuộm tập trung nhiều nhất ở phía Bắc, chiếm tới 85,5% số làng nghề dệt nhuộm. Sơn La và Hà Tây là hai tỉnh có số làng nghề dệt nhuộm nhiều nhất (46 và 22 làng).

 

Bảng VI.9. Đặc trưng nước thải của một số làng nghề dệt nhuộm điển hình

 


Nguồn: Đề tài KC 08-09 về môi trường - làng nghề

 

Công nghệ được sử dụng tại các làng nghề dệt nhuộm khá phong phú. Tại các vùng, miền khác nhau, thường có công nghệ sản xuất và mặt hàng truyền thống khác nhau, mang nét đặc trưng riêng. Có thể kể tên một số làng nghề dệt nhuộm nổi tiếng như dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông, nhuộm sợi chỉ Tân Triều - Hà Nội, dệt nhuộm khăn mặt Thái Phương - Thái Bình, ươm tơ Cổ Chất - Nam Định hay dệt nhuộm Tương Giang - Bắc Ninh. Phần lớn máy móc thiết bị sử dụng tại làng nghề là thiết bị thô sơ, tự tạo hoặc do các cơ sở sản xuất trong nước gia công, lắp ráp. Phương thức sản xuất thường là gián đoạn, thiết bị thiếu đồng bộ. Điều này dẫn đến việc giảm hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu và đồng thời làm cho những vấn đề ô nhiễm môi trường ở các làng nghề dệt nhuộm cũng trở nên bức xúc hơn.

Ô nhiễm nước thải là vấn đề môi trường lớn nhất đối với các làng nghề dệt nhuộm. Do sản xuất có sử dụng nhiều nước, hoá chất, thuốc nhuộm nên thành phần các chất ô nhiễm trong nước thải làng nghề dệt nhuộm bao gồm: các tạp chất tự nhiên tách ra từ sợi vải: chất bẩn, dầu, sáp, hợp chất chứa nitơ, pectin trong quá trình nấu tẩy, chuội tơ và các hoá chất sử dụng trong quy trình xử lý vải như hồ tinh bột, NaOH, H2SO4, HCl, Na2CO3, các loại thuốc nhuộm, chất tẩy giặt. Khoảng 10 - 30% lượng thuốc nhuộm và hoá chất sử dụng bị thải ra ngoài cùng với nước thải.

Ô nhiễm môi trường không khí ở các làng nghề này chủ yếu là bụi và hơi hoá chất. Bụi bông sinh ra trong quá trình giàn sợi, đánh ống, xe sợi, dệt vải. Hơi hoá chất phát sinh trong quá trình nấu, tẩy, nhuộm do sử dụng hoá chất ở nhiệt độ cao và hầu hết các thiết bị sản xuất đều là thiết bị hở. Hơi hoá chất chủ yếu là xút, HCl, Cl2, CH3COOH, chất tẩy giặt. Khí thải lò đốt chứa nhiều thành phần ô nhiễm môi trường không khí như CO2, SO2, CO, NOx và bụi. Tại các làng nghề dệt nhuộm, hiện chưa có cơ sở nào có hệ thống hút bụi, thông gió để giảm lượng bụi bông trong khu vực sản xuất. Tình trạng ô nhiễm do hơi hoá chất cũng không có biện pháp khắc phục. Các cơ sở sản xuất đều không có ống khói  và đều không có hệ thống xử lý khí thải lò đốt.

Điều kiện làm việc có độ ồn cao, thiếu ánh sáng, chế độ gió và ẩm không thích hợp. Kết quả điều tra y tế tại các làng nghề dệt nhuộm cho thấy, bệnh ngoài da, viêm mũi, viêm họng và suy nhược thần kinh là các bệnh rất thường gặp ở người lao động tại các làng nghề này. Nguyên nhân tác động đến sức khoẻ do sản xuất chiếm tới 20% ở làng nghề dệt lụa tơ tằm Bảo Lộc, Lâm Đồng và ươm tơ Đông Yên, Quảng Nam , chiếm 55% ở làng dệt nhuộm Thái Phương, Thái Bình và tới 70% ở làng ươm tơ Cổ Chất, Nam Định.

Làng nghề thủ công mỹ nghệ:

Trong số 1.450 làng nghề trong cả nước, số lượng các làng nghề thủ công mỹ nghệ là cao nhất: 618 làng. Các loại hình thủ công mỹ nghệ chính bao gồm:

- Mây tre đan, thêu ren, sản phẩm cói, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài;

- Gốm sứ mỹ nghệ;

- Các sản phẩm khác (chạm khắc đá, chạm bạc,...).

Sản xuất thủ công mỹ nghệ là ngành sản xuất gắn liền với truyền thống lâu đời, nhiều sản phẩm có giá trị văn hoá cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ có yêu cầu chất lượng cao cả về giá trị lẫn thẩm mỹ nghệ thuật nên các lao động trong các cơ sở sản xuất phải có tay nghề cao. Tại một số làng nghề, quá trình sản xuất được chuyên môn hoá chặt chẽ, lao động chuyên môn được lựa chọn rất kỹ càng. Tuy nhiên, công nghệ sản xuất hầu như mang tính thủ công.

Các làng nghề thủ công mỹ nghệ cũng đang đứng trước những khó khăn không nhỏ về môi trường. Do hạn chế về vốn và kỹ thuật, nên nhiều nơi chưa đặt vấn đề thu gom, xử lý chất thải, khói bụi độc hại. Tại nhiều làng nghề, môi trường đã bị xuống cấp nghiêm trọng, do các chất thải của sản xuất. Hầu hết các cơ sở sản xuất trong làng nghề chỉ chú trọng sản xuất, kinh doanh không chăm lo đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, kết quả là ở nhiều nơi quy mô sản xuất đã vượt quá mức chịu đựng của môi trường.

Phân loại theo tác động của sản xuất đến môi trường thì các làng nghề thủ công mỹ nghệ có thể chia thành 3 nhóm chính:

- Nhóm không gây ô nhiễm: làm nón, làm hương thắp, dệt chiếu, đan cói;

- Nhóm gây ô nhiễm nhẹ: đan lát mây tre, cỏ tế, đồ gỗ, đá mỹ nghệ, sơn mài;

- Nhóm gây ô nhiễm nặng: gốm, sứ và chạm mạ bạc.

Đối với môi trường nước, loại hình gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất là các làng nghề sơn mài và chạm bạc. Lượng nước tiêu thụ tuy không lớn, nhưng có chứa hàm lượng chất ô nhiễm rất cao. Tại làng nghề sơn mài Hạ Thái (Hà Tây), hàm lượng COD, BOD và SS đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,8 đến 3,5 lần. Đối với làng nghề chạm bạc, nước thải từ công đoạn mạ có sử dụng nhiều loại hoá chất như axít H2SO4, HNO3, các muối thuỷ ngân, muối bạc, xianua, hóa chất cho công đoạn cườm bóng. Sự có mặt của các hoá chất này làm cho nước thải mạ bạc có độ pH thấp, hàm lượng xianua, kẽm, thuỷ ngân cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Cũng như hầu hết các làng nghề khác, nguồn nước thải này được hoà lẫn vào nguồn nước thải sinh hoạt và thải ra theo hệ thống mương chung.

Ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu chia thành ba loại. Ô nhiễm bụi từ các làng nghề sản xuất gốm sứ và chế tác đá mỹ nghệ do sử dụng nguyên liệu là đất đá. Ô nhiễm các khí thải lò đốt như CO, CO2, SO2, NOX do sử dụng các lò đốt thủ công có hiệu suất đốt thấp và không có hệ thống xử lý khói lò. Các lò đốt lại thường bố trí thiếu quy hoạch, nằm lẫn trong khu dân cư nên khí thải khó phát tán, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người lao động. Đối với các làng nghề sơn mài, mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, các sản phẩm thường được sấy, ngâm tẩm bằng hoá chất. Các cơ sở sản xuất trong làng nghề lại thường có mặt bằng sản xuất chật hẹp. Nhà ở thường ở lẫn với xưởng sản xuất và nơi chứa nguyên liệu, sản phẩm. Các khu vực sản xuất lại thiếu phương tiện đảm bảo môi trường lao động từ đèn chiếu sáng đến quạt thông gió, hút hơi độc. Do đó, vấn đề sức khoẻ của người lao động trực tiếp và người dân sống trong làng bị ảnh hưởng xấu, rõ ràng nhất là vào thời điểm sản xuất cao điểm.

Tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ, tỷ lệ bệnh nghề nghiệp từ các hoạt động nghề thấp hơn so với các làng nghề khác. Tuy nhiên, do đặc thù công nghệ thủ công, lao động tỷ mỉ, thời gian làm việc lâu và chủ yếu ở tư thế ngồi, nên tỷ lệ mắc bệnh đau lưng ở các làng nghề rất cao (tỷ lệ mắc bệnh của những người đến khám có nơi lên tới 100% như ở làng nghề Hạ Thái - Hà Tây). Đối với các làng nghề gốm sứ mỹ nghệ, chế tác đá, người lao động phải tiếp xúc với các nguồn ô nhiễm không khí, mà hầu như không sử dụng dụng cụ bảo hộ lao động, nên tỷ lệ mắc bệnh phổi, bệnh viêm xoang khá cao. Ngoài ra do điều kiện lao động và sinh hoạt đan xen, điều kiện vệ sinh kém nên còn gây phát sinh các bệnh ở phụ nữ và trẻ em khác.

 

Hướng giải quyết môi trường đối với làng nghề hiện nay

Để cải thiện hiện trạng môi trường ở các làng nghề, thì trước hết cần phải tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển sản xuất một cách có quy hoạch và hợp lý. Làng nghề vẫn đang tự tìm hướng đi, phát triển hay lụi tàn. Làng nghề có phát triển được, thì đầu tư cho vấn đề môi trường mới được chú trọng. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, có biết bao nhiêu rào cản đối với sự phát triển bền vững của một làng nghề, nhất là các làng nghề truyền thống với các sản phẩm truyền thống không phải luôn phù hợp với nhu cầu thị trường. Vậy hướng đi nào là thích hợp cho sự phát triển của một làng nghề.

Chuyển đổi làng nghề thành khu lưu giữ các di sản văn hoá và khu du lịch với các sản phẩm đặc sắc có tính nghệ thuật cao:

 

Khung VI.17. TÔI ĐƯỢC HƯỞNG LỘC TỪ LÀNG NGHỀ

Một gia đình có tới bảy đời tiếp nối hiến dâng cuộc đời cho nghiệp khắc đá, từ kiến thiết cung đình Huế, trùng tu di tích Ăng Ko,... đến những bức tượng dự triển lãm và được đặt tại hàng chục nước Âu, Á, Mỹ. Những tác phẩm cũng là cái tâm, cái hồn với nghề như kết tinh, quần tụ dưới chân Ngũ Hành Sơn, làng Hoà Hải, vườn tượng gia đình ông Nguyễn Sang,...

Nghệ nhân Nguyễn Sang với hơn nửa thế kỷ làm nghề và ước nguyện truyền nghề cho thế hệ trẻ kế thừa và phát triển nghề truyền thống của làng. Ông luôn trăn trở vì sự sống còn của làng nghề. Nghề đá ở Non Nước đã có những lúc lao đao, nhất là khi có lệnh cấm khai thác đá trên cả rặng Ngũ Hành Sơn. Nguyên liệu đá phải đưa từ Yên Bái, Ninh Bình, Thanh Hoá làm chi phí sản phẩm tăng lên nhiều đối với các sản phẩm thông thường truyền thống từ xưa đến nay. Làng nghề phải tìm hướng đi mới để duy trì và phát triển.

Nguyễn Long Bửu chia sẻ tâm sự với cha, nhưng anh cũng có những suy nghĩ gần gũi với lớp người trẻ tuổi năng động hiện nay. Long Bửu đang cùng lớp trẻ của làng nghệ nhân Non Nước chuyển dần nghề tạc tượng sang vương quốc của nghệ thuật. Với Long Bửu, trở về quê hương, phát huy vốn cổ truyền lên tầm cao mới luôn là khát vọng cháy bỏng trong anh. Qua bao đời thử nghiệm gian nan mà kỳ thú, anh đã thay mặt bao thế hệ nghệ nhân dưới chân núi Ngũ Hành mang lại sức sống mới cho nghề điêu khắc đá và giới thiệu cùng bè bạn quốc tế.

Một ý tưởng lớn, là nỗ lực của Long Bửu và các cộng sự đang thực hiện là tạo nên một khu vườn tượng lớn dưới chân núi Ngũ Hành, nói đúng hơn đây là một công viên tượng đá nghệ thuật của làng nghề điêu khắc đá Ngũ Hành Sơn, nơi lưu giữ và giới thiệu tài năng và các giá trị nghệ thuật của một làng nghề truyền thống đang tìm hướng đi để bảo tồn và phát triển nghề truyền thống

Long Bửu luôn tâm niệm rằng làng nghề, nơi anh đã sinh ra và lớn lên, cũng chính là nơi đã hun đúc thành công cho anh. Như anh đã phát biểu nhân dịp giành Huy chương Bạc, giải điêu khắc quốc tế tại Thái Lan, "Vinh dự này chẳng khác gì tôi được hưởng lộc của làng điêu khắc đá"