Sách » Lịch Sử » Truyện kể danh nhân lịch sử Trung Quốc

Hiếu Văn Đế cải chế

Hiếu Văn Đế

Hiếu Văn Đế triều Bắc Ngụy là một nhà chính trị, nhà cải cách rất có tài năng trong lịch sử Trung Quốc. Ông thuận theo thời cuộc, tư duy nhảy bén, đã đặt ra một loạt cải cách xúc tiến văn hóa luôn luôn được người đời truyền tụng. Ông cho rằng dân tộc Tiên Ty phải Hán hóa thì mới có thể củng cố chính quyền và thống nhất nam bắc. Tuy Tiên Ty- Bắc Ngụy lúc bấy giờ đã trở nên giàu mạnh, nhưng vẫn còn rất man rợ và mông muội so với khu vực Trung Nguyên. Một dân tộc lạc hậu làm sao có thể thống trị một dân tộc còn tiên tiến hơn mình, là một vấn đề quan trọng đặt ra trước mắt giai cấp trống trị Tiên Ty.

Bấy giờ, nội bộ giai cấp thống trị Tiên Ty xảy ra lục đục, mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc hết sức gay gắt, giai cấp thống trị Tiên Ty thường xuyên phát động chiến tranh, bắt bớ, cướp của và gia súc, bắt tù binh lao động như nô lệ. Sau khi thống nhất miền bắc, ách thống trị của Tiên Ty đối với nhân dân các dân tộc càng thêm tàn bạo, tô thuế chồng chất, phu dịch liên miên, cưỡng bức nhân dân các dân tộc làm bộ binh đi đầu trong trận mạc, còn kỵ binh Tiên Ty đi sau đốc chiến, nên đã vấp phải sự phản kháng của các dân tộc, trong 100 năm sau khi lập nên triều Bắc Ngụy, cả thảy đã nổ ra 7 đến 80 mươi cuộc khởi nghĩa và bạo loạn của các dân tộc, trong thời kỳ thống trị của Hiếu Văn Đế cũng đã có hơn 10 cuộc bạo loạn xảy ra. Do đó, Hiếu Văn Đế đã đặt trọng tâm của cuộc cải cách vào vấn đề Hán hóa Tiên Ty, nhằm mục đích lợi dụng nền văn minh tiên tiến của dân tộc Hán để trinh phục sự man rợ và mông muội, hoàn thiện thể chế nhà nước. Nhà vua đã làm gương đổi tên mình là Nguyên Hùng.

Thời cổ Trung Quốc rất tin cậy thuật phù thủy, những người này thường dùng mai rùa hay gọng cỏ để xem bói, biết trước được ý trời và ma quỷ để phán đoán sự cát hung họa phúc của người đời, nó có sức ràng buộc rất lớn đối với sinh hoại chính trị xã hội. Sự mê tín này đã hoành hành trong thời đại chế độ nô lệ Thương Chu, và kéo dài mãi đến thời kỳ chế độ phong kiến.

Đầu năm thời Bắc Ngụy, địa vị của phù thủy vẫn rất cao, bấy giờ toàn dùng mụ phù thủy, nhà nước hàng năm tổ chức hai lần cúng tế, bấy giời từ nhà vua đến văn võ bá quan đều phải nghe theo lời mụ phù thủy.

Sau khi Hiếu Văn Đế lên ngôi, nhà vua tiến hành cải cách, nhưng phái quý tộc bảo thủ và đại thần trong triều đã câu kết với đám phù thủy, lợi dụng sự mê tín để quấy nhiễu và phá hoại cải cách. Hiếu Văn Đế nhận thấy muốn thực thi cải cách thì trước tiên phải đối phó với sự mê tín này.

Năm 485 công nguyên, Hiếu Văn Đế lúc đó mới 19 tuổi đã hạ chiếu cấm thuật bói toán dị đoan.

Năm 491 công nguyên, Bắc Ngụy xảy ra đại hạn, ruộng đồng khô nứt, một đám quan chức đã dâng tấu chương lên Hiếu Văn Đế xin cho tế thần cầu mưa. Nhà vua đáp rằng: "Thành Thang và Tề Cảnh khi trước gặp hạn nào có tổ chức tế thần cầu mưa đâu, họ dựa vào sức người chiến thắng thiên tai, hiện nay các nơi đều bị hạn, nếu thần có linh thiêng thì cũng không nên an hưởng sính lễ". Ít lâu sau, Hiếu Văn Đế hạ chiếu quyết định giảm số lượng đền miếu trong cả nước

Năm 493 công nguyên, Hiếu Văn Đế triệu tập quần thần ở Bình Thành ?Tức Đại Đồng tỉnh Sơn Tây ngày nay?để bàn thảo việc rời đô sang Lạc Dương. Thái úy Cáng Phi khuyên rằng: "Nếu muốn rời đô thì phải bói quẻ dữ lành đã rồi sẽ rời sau". Hiếu Văn Đế lập tức phản bác rằng: "Đó là cách làm cổ hủ, trước kia Chu Công và Chiệu Công làm theo quẻ bói chọn khu vực Y, Lạc dựng đô, nhưng hiện nay không có người như Chu Công và Chiệu Công nữa rồi, chẳng cần phải bói toán gì cả".

Việc Hán hóa và thiên đô đều bị người Tiên Ty phản đối, thái tử cũng phản đối chính sách này, nên cuối cùng bị phế bỏ rồi bị giết chết. Sau khi rời đô, Nguyên Hùng càng ra sức chiêu nạp các nho sĩ ở Trung Châu, đến năm thứ hai sau khi rời đô, với danh nghĩa Tề Minh Đế có mưu đồ tiếm quyền, Nguyên Hùng đã thân trinh dẫn đại quân đánh xuống miền nam, vượt qua sông Hoài tiến thẳng về Thọ Xuân, nhà vua có ý muốn tiến xuống phía nam sông Trường giang, nhưng vì ba thị trấn quan trọng ở phía nam sông Hoài là Thọ Xuân, Khư Di và Hoài Âm đều chưa đánh chiếm được, đành phải cử sứ giả sang khiển trách Tề Minh Đế rồi rút quân về. Đến năm 21, lại đánh xuống Nam Dương, Tân Dã, nhà vua thân trinh dẫn quân đánh Nhữ Nam. Năm sau, Tề Minh Đế mất mới rút quân về. Đến năm thứ 23, Nguyên Hùng lại lần nữa đánh xuống miền nam, khi đến thành Mã Khuyên bị lâm bệnh nặng, trên đường rút quân về thì qua đời tại trung quân.