Sách » Văn Học Trong Nước » Kho tàng lục bát dân gian

Câu thai đố - một loại hình văn nghệ dân gian độc đáo

     Câu thai đố là một loại hình văn nghệ dân gian rất hấp dẫn, một loại văn chương bình dân truyền khẩu như câu hò, câu hát ru hay kể chuyện. Người dân lao động ở đồng bằng sông Cửu Long trước đây hay dùng đến trong lúc đêm về hoặc lúc giải lao sau một buổi lao động cật lực. Phần tổ chức thì tự quản, một bên ra câu đố, một bên đáp và luân phiên nhau. Còn giải thưởng thì sao? Danh dự và sung sướng dành cho đội nào có sáng kiến, suy nghĩ tìm tòi ra câu đố mới hoặc giải đáp nhiều câu đố của đội bạn. Nhờ có đố qua đố lại tranh hơn thua nhau một cách chính đáng và sòng phẳng nên câu đố mỗi lúc một dồi dào, đa dạng. Ban đầu là những câu đố gợi hình dáng đơn sơ như:

 

 

Hai tay ôm lấy cột nhà
Ruột gan không có, cái da bầy nhầy


(Cái võng)

 

     hoặc kết hợp với tập tính, đặc tính, công dụng như:

 

Đầu tròn mình nhỏ thon thon
Nắm đầu vặn cổ lệ hàng tuôn rơi.


(Cái vòi nước)

Ai vui tôi cũng vui cùng
Ai buồn tôi cũng buồn cùng với ai.


(Cái gương soi)

Tôi muốn cho chủ tôi tàn
Để tôi mắc võng nghênh ngang khắp nhà.


(Con nhện)

Cây khô mọc rễ trên đầu
Sông sâu không sợ, sợ cầu bắc ngang.


(Cây cột buồm)

 

     Người ra thai đố quan sát sự vật trên nhiều khía cạnh khác nhau. Mọi thể thơ cũng được dùng đến để làm thai đố từ câu 4 chữ đến câu lục bát hoặc biến thể miễn sao động viên được người nghe và nói lên được nội dung mình muốn đố. Do đó, hình thức có lúc nghiêm túc, có lúc bông đùa, dí dỏm, có lúc thô tục. Thí dụ:

 

Bằng cái nồi rang,
Cả làng phơi thóc


(Mặt trời)

Chiếc thuyền be bé
Cái mũi be be
Năm người đẩy
Năm người đè
Nó chạy tắm te.


(Cái vạch thợ may)

 

     Người ra thai đố thường thi vị hóa, nhân cách sự vật làm cho câu đố trở nên hấp dẫn và khó giải. Như vậy muốn buổi sinh hoạt được hào hứng mãi, người ra thai đố phá cái bế tắc đó bằng cách cho xuất kèm theo. Nhờ có xuất, người đáp sẽ tập trung suy nghĩ tìm tòi sâu vào một sự vật, một chủng loại để tìm ra vật mà người ra thai đố ám chỉ. Thí dụ:

 

Mình già mặc áo cũng già
Tay xách con gà, đầu đội thúng bông.

 

     Nếu không có xuất để chỉ cho người đáp biết nội dung câu đố này thuộc chủng loại nào, sự vật nào thì dễ loay hoay tìm ở con người. Người nào thường mặc quần áo màu già, tay có xách con gà mà đầu đội thứ gì màu trắng. Với câu đố trên, người ra thai đố cho xuất điểu tức thuộc loài chim. Như vậy, người đáp sẽ loại ra khỏi dòng suy nghĩ tìm tòi của mình biết bao hình tượng na ná với nội dung câu thai. Đằng này, cho biết thuộc loài chim, chim có lông mầu nâu già, đầu chim có mầu trắng. Còn lại là tay xách con gà. Rõ ràng câu đố ám chỉ cho loại chim ăn thịt sống như ó, quạ, diều, chim cắc...ó, chim cắc có bộ lông rằn, quạ có lông đen, chỉ con diều là lông mầu gà, đầu lại có chóp mầu trắng. Thế thì đúng rồi, con diều hâu bắt con gà con.

     Cho xuất tức là áp dụng phương pháp loại dần ra để từ đó người đáp tập trung vào một loại và tiếp tục loại dần ra cho đến khi tìm được hình tượng thích hợp với câu đó. Có những loại xuất như sau:


     1) Xuất vật dụng: tức là nói đến các vật, đồ vật dùng trong cuộc sống hàng ngày. Trong xuất vật dụng còn chia ra xuất mộc dụng, xuất kim dụng để chẻ nhỏ ra cho người đáp dễ tìm vì xuất vật dụng còn quá rộng.

     2) Xuất mộc hoặc xuất thảo mộc: đển nói về cây cỏ.

     3) Cây và trái có cùng tên với nhau. Cùng một câu đố người thì cho xuất mộc người thì xuất quả để nói về trái cây.

     4) Xuất bỉnh để khoanh vùng cho các loại bánh.

     5) Xuất thú dùng để chỉ cho gia súc, gia cầm hoặc các loài thú khác sống dưới đất.

     6) Xuất điểu dành riêng cho các loài chim.

     7) Xuất gia cư để nói về nhà cửa.

     8) Xuất thiên văn để nói về trời đất và các hiện tượng của trời đất.

     9) Xuất nhân để nói về con người, thân thể người hoặc việc làm của người.

     10) Xuất tự để đố về chữ. Xuất tự có hai loại: Việt tự và Hán tự (Hán tự hiện nay không thuộc loại phổ thông nên ít được dùng). Ví dụ:

 

Hai người đứng bắt tay nhau,
Chạm trán chạm đầu mà chẳng chạm chân.


(Chữ A)

 

     Ngoài việc vận dụng hình dáng và công dụng của sự vật mình muốn đố, người đố còn vận dụng những hình thức khác khá linh động và phức tạp hơn như đố láy, đố mẹo để bắt chẹt người đáp.

     Đố láy thì câu đố thường khi không nghĩa nhưng trong đó sắp xếp được những từ mình muốn đố như:

 

Chèo thuyền ra tới bể Đông,
Cái mui thì mất, cái cong thì còn.


Xuất thú: con còng.

 

     Ở đây người đố láy hai chữ CONG và CÒN. Láy theo kiểu đồng bằng Nam Bộ thì cong còn là con còng. Láy phải dùng ít nhất là 2 từ. Tách phần vần và phụ âm ra, đem vần trước ghép với phụ âm sau và vần sau ghép với phụ âm trước. Dấu của vần nào mang theo vần ấy, đôi lúc dấu để yên vị không mang theo vần.

     Trong lúc đố sôi nổi, ăn thua gay cấn cho cả hai bên thì mỗi bên đành phải dùng thủ thuật lắt léo để gây khó dễ cho đối phương. Người đố xuất thần ra một câu thai đố nói ra ngay sự vật mình muốn đố cho đối phương bất ngờ không nghĩ tới như chơi ván bài lật ngửa:

 

Bằng ngón tay
Ngủ ngày ngáy ton ton.


(Xuất nhân)

 

     Láy từ ngáy ton ra ngón tay. Vậy mà mào đầu người đố dùng ngay từ ngón tay thì thật ranh mãnh làm cho người đáp khó nghĩ ra được.

     Ngoài đố láy còn đố mẹo. Trong đố mẹo thì nội dung câu đố không cần sát với ý của vật muốn đố. Muốn đáp được thì lấy ý của câu suy ngược lại hoặc nghĩ một cách nào khác trại ra cho đúng với xuất của câu theo ý đồ người đố. Người đố trong lúc lúng túng, tỷ lệ bại thua trong thi đố đang nghiêng về phần mình bèn dùng một câu hát ru để cho đối phương bí mà gỡ lại bàn thua:

 

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.


(Xuất bỉnh)

 

     Xuất bỉnh ám chỉ câu đối này thuộc loại bánh. Mà trong các loại bánh đâu có bánh gì quái dị như thế. Người đáp nhanh trí nghĩ ra rằng mình bị đố mẹo, liền suy ra. Khó đi hoặc đi không được mà phải qua cầu thì làm sao? phải bò thôi: Người đáp liền đáp ngay là bánh bò. Người đố phải một phen thua cuộc nữa.

 

Mẹ ơi con muốn lấy thầy
Lấy ai thì lấy để thầy cho tao


(Xuất mộc)

 

     Câu này tương tự như câu trên. Hai mẹ con giành nhau một ông thầy (thầy giáo, thầy thuốc... ở đây không nói rõ, ta không cần nghĩ đến). Qua câu đố này cũng xin ngoặc thêm một điều là đa số người dân Nam Bộ trước đây thường căn cứ vào nghĩa hơn căn cứ vào chữ hoặc phát âm. Nếu là xuất mộc, câu này ý người đố là cây dành dành. (Dành và giành đồng âm nhau thì tạm coi như đồng nghĩa).

     Sự vật cũng được người dân thể hiện qua nhiều câu đố khác nhau. Ông Táo và nồi cơm cũng có các câu đố như:

 

Ba thằng lỏng khỏng cõng một thằng đen thui.

Thằng đỏ liếm đít thằng đen,
Thằng đen không nói ăn quen liếm hoài.

 

     Điếu thuốc thì có những câu:

 

Đầu đội thúng tro,
Đít đo cây cột.


(Điếu thuốc tàn dán lên cột)

Cây suông đuồn đuột
Trong ruột rối nùi,
Người lớn mua vui
Đem ra mà đốt.

 

     hoặc:

 

Da trắng như da trứng vịt
Trong rối tợ như dây tơ hồng,
Lòng thương quân tử đầu vùi xuống tro.

 

     Câu đố thuộc loại văn chương truyền khẩu và có phát triển trong từng giai đoạn trước đây. Nó có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục thông qua các cuộc vui tao nhã đối với thanh thiếu niên. Câu đố phát huy sự thông minh, sự nhạy cảm, sự nhanh trí qua tìm tòi, phán đoán sự vật, sự việc với hình ảnh cụ thể hoặc trừu tượng.

     Thiết nghĩ đưa loại hình sinh hoạt này vào trường học nhất là ở cấp phổ thông cơ sở, chắc sẽ tạo một số tiết học vui vẻ hứng thú hơn hoặc tạo một buổi sinh hoạt đội vui vẻ bổ ích hơn.

 

 

Tác giả Lưu Văn Nam